Thứ Năm, 18 tháng 12, 2025

Dì Tính

Một đêm ghé lại mái tranh,

Mẹ thương giữ lại, vợ đành ngồi trông.

Sáng đi khuất nẻo non sông,

Một đời ở lại bến không bóng người.

Chiến tranh - Ảnh minh họa 

Người đàn bà bước ra từ nạn đói

   Dì Tính là con nuôi của ông bà ngoại tôi. Gốc gác của dì, đến giờ vẫn không ai nói rõ. Chỉ biết ông ngoại đem dì về nuôi từ những năm đói Ất Dậu – cái thời người ta sống sót đã là một ân huệ, còn ruột rà, họ mạc nhiều khi phải xếp sau nồi cháo cầm hơi.

   Dì lớn lên trong sự chắt chiu và lặng lẽ. Không phải kiểu lặng lẽ của người biết nhẫn, mà là lặng lẽ của người không có quyền lên tiếng. Năm nay dì đã ngoài tám mươi. Chồng dì là liệt sĩ. Hai chữ ấy, nghe qua tưởng như một danh xưng tròn trịa, nhưng phía sau là cả một đời đàn bà sống cùng thiếu vắng.

Một cuộc gả chồng sớm

   Ông ngoại gả chồng cho dì khá sớm. Ở làng quê nghèo ngày ấy, con gái lớn lên không phải để mơ mộng, mà để sớm có người “đỡ đần”. Dì sinh được hai người con trai, đặt tên là Nghĩa và Lý – những cái tên nghe đầy đạo lý, mà đời thì lại thiếu đủ bề.

   Chồng dì là con riêng của bà Huệ – mẹ chồng dì. Một gia đình nghèo chồng lên nghèo. Dì ít học, không biết tính toán làm ăn, nên năm nào cũng thiếu ăn. Hai đứa nhỏ học hành lận đận, học mãi không lên được lớp, rồi bỏ dở lúc nào không hay.

   Dì vẫn thường kể chuyện ấy bằng giọng đều đều, như người ta nói về cái nghèo quen thuộc, không còn sức để than.

Ngày người đàn ông ra đi 

   Ngày chồng dì đi bộ đội, dì đã có đủ hai người con. Gia đình dì khi ấy thuộc diện nghèo nhất làng. Tiễn chồng ra đi, dì không khóc nhiều. Thời ấy, người ta quen với chia ly, quen đến mức không dám khóc to vì sợ… xui.

   Chiến tranh cuốn người đàn ông ra khỏi mái nhà tranh, để lại người đàn bà và hai đứa trẻ. Dì ở lại, vừa làm ruộng, vừa nuôi con, vừa chờ chồng. Sự chờ đợi lúc đó chưa mang hình hài bi kịch, chỉ là một điều tất nhiên: chiến tranh qua rồi, người sẽ về.

Một đêm duy nhất 

   Có một lần, đơn vị của chồng dì hành quân ngang qua làng. Chồng dì được đơn vị cho về nhà đúng một đêm. Chỉ một đêm ngắn ngủi giữa sống và chết, giữa chiến tranh và gia đình.

   Nhưng đêm ấy, bà mẹ chồng không cho con trai về ngủ với vợ. Bà bảo con phải ở lại ngủ với mẹ. Có lẽ bà thương con theo cách của một người mẹ sợ mất con. Còn người vợ trẻ và hai đứa con thơ, đành chấp nhận đứng ngoài sự thương ấy.

   Dì kể đến đây, giọng vẫn chùng xuống, dù chuyện đã mấy chục năm trôi qua. Dì không nói thẳng là trách, nhưng nỗi trách cứ nằm im trong từng khoảng lặng.

Sáng hôm sau, chồng dì trở lại đơn vị.

Và từ ngày ấy… không bao giờ trở về nữa.

Nỗi trách không thành lời

   Dì kể câu chuyện này với tôi như kể một việc đã cũ, nhưng không hề nguôi. Dì trách bà mẹ chồng, nhưng trách rất khẽ, như sợ người đã khuất cũng nghe thấy.

   Còn tôi, nghe xong, cũng không biết nói sao cho phải. Không biết nên đứng về bên nào. Bên người mẹ sợ mất con, hay bên người vợ cả đời mất chồng.

   Có lúc tôi tự hỏi, hay là người đàn ông ấy, trong đêm ngắn ngủi kia, cũng từng phân vân như câu Kiều:

“Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn?”

chiến tranh đã không cho anh cơ hội trả lời.

KẾT – Một đời thiếu vắng 

   Dì Tính sống thêm mấy chục năm nữa (giờ đang ốm nặng), nuôi con, nuôi cháu, sống lặng lẽ trong làng. Danh phận là vợ liệt sĩ, nhưng hạnh phúc thì dừng lại ở một đêm không trọn.

   Có những số phận, chỉ vì một đêm không được ở bên nhau, mà cả một đời sau đó phải sống trong thiếu vắng. Có những nỗi buồn, càng kể nhỏ, càng ở lại lâu.

   Và có những người đàn bà, cả đời không đòi hỏi được bù đắp, chỉ lặng lẽ tin vào một câu rất xa:

“Còn thân ắt cũng đền bồi có khi.”


P/S:

   Có những câu chuyện không cần kết luận. Chỉ cần kể lại, để người đọc tự im lặng một lúc, là đủ.

   Chồng của dì tên là Nguyễn Văn Giảng, tôi gọi là dượng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Cây gậy và củ cà rốt ở Eo biển Hormuz – Ván cờ dầu mỏ nóng bỏng

“The carrot and stick approach is still being used in parallel in the conflict with Iran.” Eo biển Hormuz – tuyến hàng hải vận chuyển gần 20...