Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2025

Chân Dung Nhân Vật Trong Truyện Kiều

   Giữa nhịp sống hôm nay, trở lại với Truyện Kiều để gặp lại những con người cũ: Kiều, Kim Trọng, Hoạn Thư, Từ Hải… Mỗi chân dung là một câu chuyện, một nỗi niềm, và một lời nhắc về lòng người – xưa cũ mà chưa bao giờ xưa.

🌸 Chân dung nhân vật trong Truyện Kiều

(Một góc nhìn của “CỔ & CŨ – Du Hà Ngọc”)

Truyện Kiều - Ảnh Internet 

   Ngày xưa, ở mỗi trang Truyện Kiều là một phận người. Có người đẹp mà bạc, có kẻ dữ mà khôn, có kẻ giả nhân giả nghĩa mà mang danh kẻ sĩ. Nguyễn Du chẳng cần vẽ nhiều, chỉ dăm câu chữ đã dựng nên một bức chân dung sống động đến rợn người.

   Tôi vẫn tin rằng, đọc Truyện Kiều không chỉ là để thương Kiều, mà còn để soi mình giữa cuộc đời lắm bụi.

   Mỗi nhân vật trong ấy – từ Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải, Hoạn Thư, đến Mã Giám Sinh... – đều là một tấm gương phản chiếu con người muôn đời: cái thiện và cái ác, cái đẹp và cái xấu, cái thật và cái giả.

   Vì thế, tôi muốn viết lại – chậm rãi và thành kính – những “chân dung” ấy, bằng giọng kể của thời cũ, pha chút bụi thời gian, pha cả hơi thở của hiện tại.

  Để khi khép lại một bài, ta còn nghe dư vang của Nguyễn Du đâu đó giữa lòng đời nay.

🌿 Mục tiêu chuyên mục

   Giới thiệu và phân tích từng nhân vật tiêu biểu trong Truyện Kiều

   Gợi mở triết lý nhân sinh ẩn trong ngòi bút Nguyễn Du

   Liên hệ với con người và xã hội hiện đại – bằng giọng văn “Cổ mà không cũ”


🌸 P/s

   Mỗi nhân vật trong Truyện Kiều đều như một giọt sương của kiếp người — long lanh, trong trẻo, rồi tan.

   Nhưng Nguyễn Du đã làm điều không ai khác làm được: giữ lại hồn người trong chữ.

   Nếu bạn thấy bài viết hữu ích, đừng ngần ngại để lại một lời nhắn hoặc chia sẻ cho bạn bè!

   Mời các bạn đón đọc lần lượt từng nhân vật và comment để chúng tôi hoàn thiện bài viết hơn nhé!

---



Thứ Năm, 30 tháng 10, 2025

Người xa quê

    Một lát cắt đời sống của chàng công nhân Việt Nam nơi sân ga Wilthen giữa thời khắc Đông Đức đổi thay. Với áo bò bạc màu, thùng rượu Weinbrand ôm giấc mơ bán được rượu để có thêm tiền mua hàng gửi về quê giúp đỡ gia đình, anh đứng lặng giữa tiếng tàu và nỗi cô đơn xa xứ. Một câu chuyện nhỏ nhưng chất chứa cả một thời thanh xuân dấn thân nơi đất khách.

Người khách lạ ở Bahnhof Wilthen, 1990

   Wilthen – một thị trấn nhỏ ở vùng Saxony (trước đây là Dresden), gắn liền với hương vị rượu brandy trứ danh của Cộng hòa Dân chủ Đức. Năm 1990, giữa những biến động lịch sử, sân ga Bahnhof Wilthen hiện lên với vẻ tĩnh lặng đặc trưng: vài dãy ghế gỗ, tiếng loa báo tàu đều đặn, và bóng chiều trải dài trên đường ray.

   Giữa sân ga ấy, có một chàng trai trẻ người Việt Nam. Anh mặc bộ quần áo bò xanh bạc màu, dáng gầy gò, khuôn mặt rám nắng sau những ngày làm việc trong xưởng. Trên mắt là đôi kính râm tròng tròn, vừa mang chút ngông nghênh tuổi trẻ, vừa che đi sự lặng lẽ xa xứ.

   Anh là công nhân tại VEB Weinbrand Wilthen – nhà máy rượu nổi tiếng của Đông Đức. Quy định khi ấy, mỗi tháng công nhân được mua hai chai rượu đặc biệt, loại chỉ bán nội bộ và phải đóng dấu khi mang ra khỏi cổng bảo vệ. Anh không uống. Thay vào đó, anh tích cóp, gom đủ thành một thùng nhỏ.

Nhà ga tàu Wilthen - Ảnh Internet 

  Thùng rượu và giấc mơ kiếm tiền 

   Cuối tuần, chàng trai mang thùng rượu ấy lên tàu. Từ Wilthen, anh đi Leipzig, Chemnitz, hay các nơi có cộng đồng người Việt sinh sống để bán. Những chai rượu VEB Weinbrand không chỉ là thứ hàng hóa quý hiếm, mà còn là nhịp cầu để anh kết nối, để gửi chút hương vị bản địa vào đời sống tha hương của đồng hương.

   Hình ảnh ấy – một chàng trai đứng chờ tàu, vali nhỏ, thùng rượu bên cạnh – tưởng chừng giản dị nhưng chất chứa cả một thời kỳ. Thế hệ lao động xa xứ, mang giấc mơ đổi đời, kiếm từng đồng tiền gửi về quê hương. Trong đôi kính râm phản chiếu ánh nắng cuối chiều Wilthen, ta thấy rõ bóng dáng của tuổi trẻ dấn thân, xen lẫn niềm hy vọng và cả nỗi cô đơn của một thời lịch sử đang đổi thay.

Ga vắng Wilthen bóng nắng nghiêng,

Áo bò xanh bạc gió thời gian.

Thùng rượu Weinbrand ôm giấc mộng,

Kính tròn che mắt, nhớ quê nhà.


P/s: Hãy chia sẻ trải nghiệm của bạn trong phần bình luận nhé!

---

Thứ Hai, 27 tháng 10, 2025

Ký Ức Vị Xuyên

   Cuối năm 1986, tôi vừa khỏi sốt rét thì nhận nhiệm vụ mở đường cho xe tăng lên chốt tại Bắc Quang, Hà Giang. Những ngày ấy, gian khổ có, hiểm nguy có, nhưng cũng đầy tình người và lòng quả cảm…

Lính Vị Xuyên - Ảnh Internet 

🌿 Khởi đầu gian nan

   Cuối năm 1986, tôi được về phép sau thời gian dài công tác. Chưa kịp vui mừng, tôi mắc sốt rét ác tính, phải nằm viện quân y 354 Hà Nội suốt một tháng trời. Những ngày nằm viện, tôi chỉ mong chóng khỏi để trở lại đơn vị – nơi có đồng đội, có nhiệm vụ đang chờ.

  Vừa khỏi bệnh, tôi trở lại đơn vị ngay và nhận lệnh lên đường: mở đường hộ tống cho bốn xe tăng đang tập kết ở huyện Bắc Quang lên chốt - chiến trường Vị Xuyên.

🚛 Đội hình công binh

   Đoàn công binh chúng tôi gồm hai sĩ quan chỉ huy: tôi phụ trách xe máy, anh Tới phụ trách nhân lực.  

- Bộ phận xe máy: Hùng Bớp lái xe, Khiêm thợ máy, và chiếc ô tô ZIL 130.  

- Bộ phận nhân lực: một tiểu đội kỹ thuật chuyên phá đá, làm đường, cầu, hầm…

   Dụng cụ cuốc xẻng, thuốc nổ, gạo muối, lạc khô… chất đầy xe, chúng tôi hành quân về Bắc Quang.

📺 Một đêm đáng nhớ

   Sau khi hợp đồng tác chiến với đơn vị xe tăng, chúng tôi nghỉ tạm ở nhà dân. Tôi còn nhớ rõ đêm ấy, ngồi xem TV phát trực tiếp Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 – một khoảnh khắc vừa gần gũi, vừa thiêng liêng.

🌉 Vượt cầu trong đêm

   Nhiệm vụ của chúng tôi là làm đường tránh cầu – vì xe tăng không được phép đi qua cầu. Những ngày đầu thuận lợi, nhưng rồi thử thách bắt đầu.

   Một hôm, sau ngày làm việc mệt mỏi, chúng tôi vào nhà dân xin nghỉ nhờ qua đêm. Lúc ấy khoảng 20 giờ. Chưa kịp nghỉ ngơi, đơn vị xe tăng thông báo phải hành quân gấp trong đêm. Đường tránh chưa xong, mà tiếng xe tăng đã rền vang gần đó.

   Tôi và anh Tới vội lấy thước dây đo khoảng cách giữa hai dầm cầu – may sao trùng khớp với hai vệt xích xe tăng. Chúng tôi ra hiệu cho xe tăng vượt cầu. Bốn chiếc xe tăng ầm ầm lao tới, và thật kỳ diệu, cả bốn đều qua cầu an toàn. (Liều)😓

  Tất cả chúng tôi lại tiếp tục hành quân đi trước đoàn xe tăng để hỗ trợ trong đêm. Trong đầu tôi cứ lởn vởn - May quá, cầu không bị sập!

🌊 Sự cố giữa dòng suối

   Mấy ngày sau, đến cây số 19, chúng tôi gặp một con suối lớn, nước chảy xiết. Hai xe tăng đi đầu từ từ bò xuống nước, lúc đầu không sao, nhưng khi ra gần giữa suối thì bắt đầu nghe tiếng lạo xạo, rồi khộp khộp – tiếng động cơ lịm dần rồi tắt hẳn. Hai xe sau được lệnh dừng lại. Đơn vị công binh chúng tôi nhận lệnh rút về.

🎖️ Ký ức không phai

   Nhiệm vụ kết thúc, nhưng những gì chúng tôi trải qua – từ bệnh tật, gian khổ, đến những phút giây căng thẳng giữa đêm – vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức. Đó là những ngày tháng không thể nào quên, khi người lính công binh sống và chiến đấu bằng tất cả lòng nhiệt huyết, trí tuệ và tình đồng đội.

Lời kết 

   Dù thời gian đã trôi qua gần bốn mươi năm, những ký ức ấy vẫn sống động trong tôi. Đó là những ngày tháng không thể nào quên – khi người lính không ngại gian khổ, hy sinh nơi tuyến đầu của Tổ quốc.

P/s:  

   Những ký ức này tôi viết lại để lưu giữ một phần tuổi trẻ đã sống hết mình giữa núi rừng biên giới. Nếu bạn từng là lính, từng đi qua những năm tháng ấy, đọc được bài viết này thì comment để bổ sung cho bài viết vì nhiều chi tiết tôi đã quên. 

   Vậy là Hùng Bớp đã về với tổ tiên 12 năm rồi (2013). Cầu mong chú em an lành nơi chín suối (Tin do Cường - đồng đội mới liên lạc được cung cấp).

---


Sập Hầm Đêm Mưa Ở Cốc Nghè

   Mưa rừng, mưa tầm tã, mưa thối đất, mưa nhiều tiếng đồng hồ mà không ngớt. Những lúc như thế chỉ ngồi trong hầm, trong lán quan sát, rẽ dọi những chỗ trên mái che để khỏi nước dột vào chỗ ngồi, chỗ nằm. Và lo lắng, lo không nấu được cơm ăn, lo lở núi, đất đá xô…

Hai hầm 

   Đơn vị tôi có hai hầm, trước cửa hầm là lán, chênh vênh bên sườn núi. Hơn chục con người sinh hoạt trong hai hầm này. Chúng tôi là lính công binh, nhiệm vụ là: Đảm bảo đường sá, cầu hầm cho các đơn vị bộ binh tác chiến. Ở chiến trường, chiến đấu với quân thù đã là một nhiệm vụ đặc biệt khó khăn, nhưng để chiến thắng được thiên nhiên, nhiệm vụ cũng không hề nhỏ.

Vượt lũ quyét 

   Câu chuyện tôi kể dưới đây là một ví dụ: Đêm ấy ở Cốc Nghè, hai lán hầm của chúng tôi bị mưa đánh sập mất một. Vào lúc nửa đêm, nghe tiếng động lạ, càng lúc càng to. Tôi vùng dậy ra khỏi lán, trời vẫn mưa như chút nước, nhìn sang phía lán bên kia, thì... hỡi ôi! Nước như dòng thác đổ xuống, đất đá, cây cối ầm ầm lao xuống vùi lấp toàn bộ lán. Tôi lao về phía đó, chỉ còn nhìn thấy mấy cái cọc còn vướng những chiếc màn màu xanh nhô lên. Tôi quét đèn pin, thấy mấy “chú lính” ướt như chuột lụt đúng co ro, sợ hãi bên gốc cây bên cạnh.

Hành động 

   Tôi quát: “Còn mấy thằng kia đâu?”. Tôi dùng đèn pin thúc nhẹ vào vai từng chú, rồi cùng lao xuống lán, bới móc và đưa được tất cả những đồng đội ra khỏi đống đổ nát mặc cho trời vẫn mưa. May mắn không đồng chí nào hy sinh, chỉ bị thương. Một may mắn nữa là cái lán của tôi không bị sập, cho nên có chỗ để cho các đồng chí bị thương nằm, sơ cứu,... chờ trời sáng vận chuyển xuống “phẫu”.

Nhớ lại 

   Tôi còn nhớ những đồng đội bị thương hôm ấy gồm: Tinh, Sơn, Đạo là rất nặng. Tôi nhớ không rõ lắm Tinh là người Thanh Hóa, Đạo, Sơn là người Lào Cai thì phải? Sơn Lái máy ủi, Tinh và Đạo là lính nhân lực, họ còn rất trẻ. Chắc chắn còn một số bị thương nhẹ nữa nhưng tôi không nhớ nổi. Một số người tôi còn nhớ tên là anh Thắng trung đội phó (tôi trung đội trưởng), anh Tài, anh Vạn, anh Trung.

   Sau này - vì nhiệm vụ, mỗi mỗi người mỗi ngả - chúng tôi không gặp được nhau nữa. Vậy mà đã 40 năm trôi qua. 

Đêm mưa thác lũ đổ về,  

Hầm sập đất đá, bạn bè thương đau.  

Bới tìm nhau giữa bùn nâu,  

Bốn mươi năm nhớ tình sâu đồng đội.

P/s:

   Bụi thời gian làm mờ hết ký ức, tôi viết bài này, nếu ai có mặt hôm ấy hoặc có thông tin về họ cho tôi biết để hoàn thiện bài viết thêm. Xin chân thành cám ơn!

   Cốc Nghè là một bản giáp biên giới Việt - Trung thuộc xã Thanh Thủy,Vị Xuyên Hà Giang.

   Chuyện xẩy ra cũng vào năm 1986.

---


Phải rèn luyện!

   Ký ức của người lính những năm tháng ở Vị Xuyên, Hà Giang nơi "rèn luyện" không chỉ thân xác mà cả ý chí con người.


Hòm đạn Vị Xuyên 

    "Lính cậu hả? Phải rèn luyên!" - đó là câu nói của chính ủy Tô Tân nói với tôi, khi tôi được điều động về Lữ đoàn công binh 543 đến trình diện. 

   Tôi nhập ngũ từ đầu năm 1975, khi còn chưa giải phóng Miền nam. Sau gần 5 năm trong quân ngũ tôi mới được đi học đại học, tôi học trường Đại học giao thông sắt bộ. Khi đó, tôi thuộc Đoàn 871 của Tổng cục Chính trị - đoàn quản lý lưu học sinh học đại học trong và ngoài nước. 

   Sau khi học xong đại học, tôi được Cục cán bộ -- Bộ Quốc phòng điều về Quân khu 2 nhận nghiệm vụ. Quân khu 2 điều tôi về lữ 543, cuối cùng tôi được biên chế về C2, D25, làm trung đội trưởng xe máy. Năm đó là năm 1986, tôi đã 11 năm tuổi quân.

    Sống và cùng làm việc với anh em C2 ở Yên Bái ít ngày, tôi được điều lên Vị Xuyên, Hà Giang - tôi làm việc ở đó cho đến lúc ra quân. Chính vì lẽ đó mà cán bộ Lữ đoàn, cán bộ Tiểu đoàn, kể cả cán bộ Đại đội tôi cũng chỉ nhớ mang máng. 

   Ở trên "chốt", tôi gặp anh Trâm đại đội trưởng một hai lần, về Phương Độ làm việc với anh “Bình Đen” C phó một thời gian. Ở Cốc Nghè lúc ấy - C2 chủ yếu có anh “Hùng khịt” B trưởng, tôi B trưởng và anh Châu tiểu đoàn phó hay gặp nhau. Về sau anh “Hùng Khịt” đi đâu tôi không rõ (nghe nói về Yên Bái rồi ra quân), C2 còn lại chỉ một mình tôi là sĩ quan. Công việc hàng ngày do anh Châu điều phối, cho đến gần đây tôi mới biết anh Châu họ Tống.😀.

   Ở trên "chốt", gian khổ thì ai cũng biết rồi, tôi chỉ viết ra mấy dòng gọi là những ký ức khó quên. Nay tôi còn nhớ: 

- Hương vị của “chè chốt”, 

- Mùi măng rừng ngâm dưới gầm “giường”, 

- Tiếng “oạp oạp” của đạn pháo nổ phía mặt gương núi đối diện, 

- Tiếng mảnh đạn bay “vo vo” như ong vỡ tổ, 

- Tiếng “cùng cùng”, “chiu chiu” của đạn pháo trên trời, bắn từ phía bên kia. 

   Nghe mà “vui”! 

   Đúng là: “phải rèn luyện!”.


Gió núi vẫn thổi qua vai,

Hương chè "chốt" vẫn đắng dài tháng năm.

Đồi xưa pháo nổ xa xăm,

Lính già nhấp ngụm trà - thầm: "Phải rèn luyện!".😅


P/s: Tôi vẫn giữ một hòm đạn (ảnh trên) bằng gỗ làm kỷ niệm, chiếc hòm đạn này tôi nhặt ở ngoài đường mang về đựng chè. Lần về phép tôi vác nó về, trong đựng mấy cân “chè chốt” - thứ chè đắng mà thơm như chính quãng đời người lính nơi biên giới năm ấy.


Sau cơn mưa dài ngày ở điểm cao 812

   Giữa ranh giới sống – chết, vẫn có tiếng cười của người lính cần mẫn dưới cơn mưa rừng.

Máy ủi - Ảnh Internet 

🌧️ Mưa và khoảng lặng giữa chiến trường

   Mưa miền núi không giống mưa đồng bằng. Nó dai dẳng, nặng nề, như thể trời cũng trĩu lòng theo những gì đang diễn ra nơi tuyến lửa.

   Sau trận mưa lớn, đất đá sạt xuống như ai giận dỗi, cả ta và địch đều im tiếng súng. Một khoảng lặng hiếm hoi giữa chiến trường – không phải yên bình, mà là quãng nghỉ mệt mỏi của thiên nhiên và con người.

🪖 Nhiệm vụ khẩn trương sau cơn lũ

   Phía bên kia chiến tuyến tôi chẳng rõ ra sao, nhưng bên ta, tinh thần khắc phục thì sôi lên như lửa.

   Đường từ thác “Âm Phủ” lên điểm cao 812 – nơi tiền phương Sư 313 đóng – sạt lở nặng nề. Cả kho đạn pháo bị lũ cuốn xuống mặt đường, nằm lẫn trong bùn đất, im lìm mà hiểm hóc.

⛏️ Hai người lính và chiếc máy ủi

   Đơn vị nhận nhiệm vụ thông đường. Chỉ có một chiếc máy ủi cũ kỹ do anh Đoài lái, còn lại là những đôi tay cầm cuốc xẻng, và ít thuốc nổ để phá đá.

   Tôi được phân cùng anh Đoài “phá” đoạn đường gần sư đoàn. Để anh yên tâm, tôi ngồi bên ghế lái, hai anh em cùng đẩy chiếc máy ủi tiến từng mét trong đống hỗn độn.

   Mỗi khi lưỡi ủi chạm vào quả đạn pháo, nó lại rung lên, lắc nhẹ như muốn báo tin. Tôi nhảy xuống, bới đất, rồi ôm những quả đạn ném xuống ta luy âm. Cứ thế, suốt buổi, giữa mưa và sương, giữa cái ranh giới của sống và chết.

🌤️ Nụ cười sau cùng và một kỷ niệm ướt lạnh

   Đến khi mặt đường phẳng lại, hai người nhìn nhau cười – nụ cười lặng mà ấm.

   Không một quả đạn nào phát nổ. Chỉ có trái tim hai người lính còn đập rộn, nghe rõ từng nhịp của sự sống giữa hoang tàn.

   Giờ nghĩ lại, thấy mọi chuyện như giấc mơ ướt lạnh.

   Chiến tranh đi qua, mưa cũng thôi rơi, chỉ còn lại trong lòng tôi tiếng máy ủi rung rung, và cái cảm giác may mắn được sống – để kể lại một kỷ niệm không bao giờ quên.

🌾 Mấy câu thơ để nhớ

Mưa tạnh rồi, đất vẫn còn thơm,

Hai bóng lính, áo sờn vai ướt.

Lưỡi ủi rung — đời chênh bên trượt,

Một nụ cười, soi sáng cả rừng đêm.


✍️ P/s

   Mưa ngừng, đất lại nằm yên. Chỉ có ký ức là vẫn ướt, ướt mãi trong lòng người còn sống.

   Giờ gặp được anh Đoài thì vui lắm - Anh Đoài người Nghệ An. Hồi ở Yên Bái, ngồi sưởi trong lán bếp mà bị một viên đạn thể thao lạc bắn vào vai, phải đi BV mổ lấy viên đạn ra. 

---










 


Thứ Sáu, 24 tháng 10, 2025

Con Lợn Đầu Tiên

   Một câu chuyện nhỏ nhưng đầy kỷ niệm về nuôi con lợn đầu tiên của vợ chồng tôi thời bao cấp. Giữa gian nhà chật hẹp và những ngày đói khó, tình bạn, tình người và tiếng cười vẫn ấm áp như hơi khói bếp xưa.

Lợn đen - Ảnh Internet 

🐖 Lần đầu tiên nuôi lợn 

   Ngày ấy, tôi lập gia đình khi vẫn còn là sinh viên đại học. Tôi học “muộn” hơn người ta — sau năm năm trong quân ngũ mới được cắp sách tới giảng đường. Gian nhà chỉ vỏn vẹn 18 mét vuông, lại phải chia ra ba phần. Phần của chúng tôi 6m2 nằm phía cửa sau (chúng tôi đi cửa sau), hẹp đến mức chỉ cần trở mình mạnh là chạm tường. Ấy thế mà vẫn nảy ra ý định… nuôi lợn.

   Đầu những năm 1980, Hà Nội rộ lên phong trào “nuôi lợn cải thiện đời sống”. Cả những căn hộ tầng 3, tầng 4 người ta còn nuôi được, huống chi mình ở tầng trệt. Thế là tôi đóng cọc, quây ván, biến góc nhỏ ngoài cửa thành “chuồng lợn sinh viên”. Con lợn đen — chẳng nhớ ai cho, hay mua ở đâu — nghiễm nhiên trở thành “thành viên mới” của gia đình trẻ.

   Sáng đi học, chiều về băm rau, nấu cám khuấy nồi khói nghi ngút. Lợn ăn ngoan, ngủ ngoan, lớn nhanh như thổi. Nhưng sang tháng thứ hai, nó bỗng dưng bỏ ăn. Tôi lo sốt vó tìm cách cứu chữa —nấu cháo cho đường vào nó không ăn, cháo cho mì chính vào nó cũng không ăn. Đêm nằm nghe tiếng lợn thở khò khè, lòng cứ thắt lại.

   Nhớ tới Chiến — bạn học Bách Khoa, đồng đội cũ ở Quảng Bình, nổi tiếng “chuyên gia lợn” — tôi đạp xe sang cầu cứu. Chiến sang xem kỹ rồi bảo:

“Chết, không cứu được.”

   Anh hòa chai nước muối, cho lợn uống, rồi nhanh như cắt, cho nó vào bao tải, buộc lên xe đạp chở thẳng lên phố Hàng Bột. Tôi đạp xe theo, vừa thương vừa buồn cười. Hóa ra ở đó có lò mổ lợn rất lớn. Con lợn được Chiến bán rồi đưa tiền cho tôi. Chiến chỉ cười: “Thế là may rồi, giữ được vốn còn hơn mất trắng.”

   Tôi đạp xe về nhà, kịp buổi học chiều. Trong đầu vẫn vang tiếng kêu eng éc của con lợn — câu chuyện nhỏ mà không bao giờ quên.

🐷 Vần vui chuồng lợn

Nhà con bé tí tì ti,

Vẫn quây góc nhỏ nuôi “dì” lợn đen.

Sáng đi học, tối về bèn,

Băm rau nấu cám, lợn khen… thơm lừng.

Khói bếp bay quẩn trong tường,

Mồ hôi mặn chát mà thương tiếng hè.

Lợn ăn ngoan, lớn khỏe re,

Chủ mừng như thể trúng phe hợp đồng.

Tháng sau lợn bỗng đau lòng,

Bỏ ăn, bỏ thở, nằm không thèm nằm.

Bạn sang chẩn bệnh một tầm,

Rót chai nước muối – lợn nằm... đi luôn!

Bán xong vẫn thấy bồn chồn,

Giữ vốn thì được, mất hồn thì không.

Tuổi nghèo – khói bếp lồng lồng,

Nuôi lợn học cách... yêu đời giản đơn.


P/s: Giờ nhớ lại, vẫn thấy thương thương. Tuổi trẻ nghèo, mà vui. Nuôi lợn, học cách sống. Mất – được, cũng nhẹ tênh như hơi thở…

Mời các bạn đón đọc Con Lợn Thứ hai. 

Phố Hàng Bột nay là phố Tôn Đức Thắng - Hà Nội. 

...

Thứ Năm, 23 tháng 10, 2025

Kỷ Niệm tuổi học trò

   Một kỷ niệm “để đời” của ngày đầu đi học cấp 3: háo hức bao nhiêu thì… ngã xe giữa đàn bò bấy nhiêu. Câu chuyện hài hước mà ai nhớ lại cũng phải bật cười, để thấy tuổi 15 vụng về mà đáng yêu biết chừng nào. 🐮🚲😄

Cú ngã “Huyền Thoại” trước cổng trường

   Khám phá câu chuyện hài hước và đáng nhớ về ngày đầu đi học cấp 3 với cú ngã “để đời” trước cổng trường. Những kỷ niệm tuổi học trò đầy ý nghĩa đang chờ bạn!  

Ngã xe đạp - Ảnh Internet 

 Buổi sáng háo hức của ngày đầu đi học cấp 3  

   Ngày đầu tiên bước vào cấp 3 là một cột mốc không thể quên, nơi cảm xúc đan xen giữa hồi hộp, háo hức và chút lo lắng. Với tôi, buổi sáng ấy không chỉ là khởi đầu của hành trình mới, mà còn gắn liền với một cú ngã “huyền thoại” khiến tôi nhớ mãi. Nếu bạn đang tìm kiếm những kỷ niệm tuổi học trò đáng nhớ hay muốn sống lại cảm giác ngây ngô của tuổi 15, 16 hãy đọc tiếp câu chuyện này!

 Một hành trình bắt đầu trên chiếc xe đạp cũ  

   Sáng hôm đó, tôi dậy từ sớm, lòng rạo rực như chú chim sắp sổ lồng. Chiếc xe đạp cũ kỹ, sơn phai màu, vẫn trung thành chờ tôi ngoài sân. Con đường làng dài hơn chục cây số, gió mát lành thổi qua, tôi đạp xe mà trong đầu mường tượng đủ mọi thứ: lớp học mới, bạn bè mới, thầy cô ra sao. Cảm giác của một học sinh 15 tuổi thật khó tả – vừa lạ lẫm, vừa phấn khích.

 Cú ngã “Đi vào lịch sử”  

   Nhưng đời không như mơ! Khi chỉ còn cách cổng trường vài trăm mét, tôi đối mặt với một “chướng ngại vật” bất ngờ: một đàn bò thong dong băng qua đường. Hoảng hốt, tôi bóp phanh gấp, nhưng chiếc xe đạp cũ không chịu nghe lời. Chỉ trong tích tắc, tôi và xe lao thẳng vào giữa đám bò, kết thúc bằng một cú ngã nhào ngoạn mục!  

   Bụi bay mù mịt, tay chân trầy trụa, trái tim đập thình thịch như muốn nhảy ra ngoài. Tôi nằm bệt dưới đất, vừa lo bò giẫm, vừa cầu trời cho chúng… bỏ qua mình. May mắn thay, lũ bò chỉ liếc nhìn rồi lững lờ đi tiếp, để lại tôi với một đống lúng túng và một chiếc xe đạp lấm lem.

 Màn “Ra mắt” độc nhất vô nhị  

   Vẫn còn run, tôi lồm cồm bò dậy, phủi bụi trên áo, dựng xe lên và lết tới cổng trường. Giữa hàng trăm bạn học sinh mới tinh tươm trong ngày khai giảng, tôi “tỏa sáng” với bộ dạng lấm lem và vài vết xước. Không cờ hoa, không nhạc hiệu, chỉ có bụi đất và ký ức về một màn ra mắt độc lạ mà chắc chắn không ai quên.

 Bài học từ cú ngã  

   Nhiều năm sau, mỗi lần nhớ lại, tôi nhận ra tuổi học trò là một chuỗi những khoảnh khắc vụng về mà đáng yêu. Có người vấp ngã vì bài thi khó, có người lúng túng vì rung động đầu đời, còn tôi thì ngã ngay giữa đàn bò. Nhưng chính những lần vấp ấy dạy ta cách đứng dậy, cười xòa và bước tiếp. Vết xước rồi sẽ lành, nhưng ký ức tuổi trẻ thì mãi là món quà quý giá.

 Lời kết: Ký ức tuổi 15  

   Giờ đây, khi nghĩ về ngày đầu đi học cấp 3, tôi không chỉ thấy lại niềm háo hức của tuổi 15, mà còn thấy rõ cú ngã “để đời” ấy. Nó là một mảnh ghép không thể thiếu trong bức tranh học trò – ngây ngô, chân thật và đầy ý nghĩa.  

   Bạn thì sao? Ngày đầu đi học cấp 3 của bạn có gì đặc biệt? Có cú ngã nào “huyền thoại” hay khoảnh khắc nào khiến bạn bật cười khi nhớ lại? Hãy chia sẻ câu chuyện của bạn ở phần bình luận dưới đây, tôi rất muốn nghe!

   P/s: Lần họp lớp kỷ niệm 50 năm tựu trường, tôi đã kể lại câu chuyện này cho các bạn nghe. Nhưng vì 50 năm mới gặp nhau, xúc động quá nên câu chuyện kể không được gãy gọn. Mong được thông cảm. 

Thứ Hai, 20 tháng 10, 2025

Khu Vườn Ông Bà Nội

  Bài viết sau đây do tác giả Hà Đình Trưởng gửi tới, tôi xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.  


   Câu chuyện đầy cảm xúc về khu vườn tuổi thơ - nơi lưu giữ mùi chè xanh, tiếng cười ông bà và những ký ức bình yên không phai.

🌳 Khu Vườn Ông Bà Nội – Nơi Lưu Giữ Mùi Thơm Tuổi Thơ

 Vườn xưa gió thổi hương chè,

Tiếng cười ông nội vọng về bên ao.

Bà ngồi gánh nặng chiêm bao,

Mà hương mít chín ngọt vào giấc con.

Hương chè, bóng cọ, tiếng cười ông bà

   Vườn của ông bà nội chúng tôi ngày ấy nhiều cây to và cao lắm. Đó không chỉ là nơi cho bóng mát, mà còn là nguồn sống của cả gia đình. Thu nhập quanh năm từ cây cọ, cây chè và cây tre – ba “người bạn” cần mẫn nuôi dưỡng cuộc sống bình dị mà yên ấm.

Vườn chè xanh - Ảnh Internet 

   Còn cây ăn quả thì mùa nào thức nấy: mít, dứa, bưởi, cam, ổi… Những gánh quả nặng oằn đôi vai bà ra chợ phiên mỗi sớm. Thi thoảng có khách đến tận vườn mua trái, ông bà lại vui như hội. Còn đám con cháu chúng tôi thì được dịp lùng sục khắp vườn tìm quả chín – ăn vô tư, hồn nhiên như thể cả thế giới này chỉ có nắng và tiếng cười.

Bà nội và ấm chè xanh

   Bà nội ít đi lễ chùa, bà bảo bà tu tại gia thôi. Bà là “nghệ nhân” sao chè có tiếng trong làng – chè bà nước xanh, thơm tự nhiên, ngọt hậu, uống một lần là nhớ mãi. Bà hãm chè bằng nước sôi già, cho thêm lát gừng mỏng, nước vàng óng ánh như nắng mùa thu. Ai từng uống rồi đều phải thừa nhận: chè xanh của bà nội, uống mà nhớ cả một đời.

Ông nội và lá thư hiện đại

   Nhắc đến chè, anh em chúng tôi lại bật cười khi nhớ chuyện ông nội. Hồi ấy, mọi nhà đều uống chè xanh bằng bát ăn cơm. Ông nội muốn “hiện đại hóa” một chút, nhờ người cháu họ ở Hà Nội mua giúp bộ cốc thủy tinh. Ông bảo viết thư tay, không cần gửi bưu điện, nội dung như sau:

Chưng cầu ông,

Cốc quả hồng,

Tiền có bốn đồng,

Bảo ông Sọt đưa.

Chú ý,

Chú ý,

Chú ý.

   Nghe thì nghiêm trang, mà khi cháu đọc lại thành: 

   “Ý chú, ý chú, ý chú.”

   Ông cười to: 

   “Láo! Láo!” — rồi chỉ im lặng, mỉm cười suốt buổi chiều.

   Tiếng cười ấy, đến nay vẫn như vang đâu đó giữa vườn chè xanh.

Khu vườn nơi khởi đầu và trở về

   Khu vườn của ông bà là nơi tất cả anh em chúng tôi cất tiếng khóc chào đời, rồi cũng là nơi tiễn đưa nhau về những ngả đường mới. Những đám cưới đầu tiên của con cháu cũng được tổ chức ngay trong khu vườn ấy — nơi tre già, mít chín, nơi có bóng dáng ông bà đứng cười nhìn đàn con lớn khôn.

   Giờ đây, ông bà đã đi xa. Chúng tôi mỗi người một đời sống riêng. Nhưng cứ mỗi lần về quê, bước vào khu vườn ấy, nghe tiếng lá cọ xào xạc, lòng lại bồi hồi.

   Ông nội, bà nội ơi, chúng cháu nhớ ông bà nhiều lắm.

   Chúng cháu cảm ơn ông bà thật nhiều!


P/S: Có lẽ ai trong đời cũng có một khu vườn để nhớ. Không chỉ là nơi có cây trái, mà là nơi cất giấu cả hương vị của tuổi thơ, tiếng cười của người thân và chút an yên mà ta mãi tìm lại giữa cuộc đời vội vã. 🌿

---




HÀNH TRÌNH 95 NĂM ANH HÙNG VÀ NHÂN HẬU

🌸 giới thiệu 

   Có những mùa hoa chẳng cần đến hương, chỉ cần nhắc tên thôi là thấy ấm lòng — như Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10. Từ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đầu tiên năm 1930 đến hôm nay, gần một thế kỷ đã trôi qua, nhưng tấm lòng, sự hy sinh và vẻ đẹp của người phụ nữ Việt vẫn nguyên vẹn như xưa. Đây là hành trình vừa cổ vừa mới — nơi ta thấy lại bóng dáng mẹ, chị và chính mình trong dòng chảy thời gian.

Phụ nữ xưa - Ảnh Internet 

🌸 Từ Hội Phụ nữ phản đế đến Ngày Phụ nữ Việt Nam 

   Hành trình 95 năm của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam – từ những người phụ nữ cầm cuốc, cầm súng đến những người chèo lái doanh nghiệp thời hội nhập. Một chặng đường đầy nước mắt, nụ cười và lòng son sắt.

🌾Hương thời gian trên vai người mẹ

   Có ai còn nhớ, những năm xưa cũ – khi mẹ ta gánh gạo ra đồng, trên vai là nắng, trên áo là sương? Người phụ nữ Việt Nam từ bao đời vẫn vậy – lặng lẽ mà kiên cường. Giữa khói súng, họ gói cơm nắm cho bộ đội; giữa những vụ mùa gian khổ, họ vẫn nuôi con lớn khôn, dạy điều thiện lành. Và từ chính những đôi tay ấy, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam ra đời – mang theo ý chí “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”.

🌺  Một chặng đường kiên cường

   1930 – 1945: Những người phụ nữ đầu tiên đứng dậy

   Ngày 20 tháng 10 năm 1930, Hội Phụ nữ phản đế Việt Nam được thành lập. Họ không chỉ phản đối áp bức mà còn đòi quyền được sống, được học, được nói tiếng nói của mình.

   Tên Hội qua từng giai đoạn cũng thay đổi – từ Phụ nữ phản đế, đến Phụ nữ giải phóng, rồi Phụ nữ cứu quốc – nhưng lòng yêu nước thì nguyên vẹn như thuở đầu.

   1945 – 1954: Gánh việc nước, việc nhà

   Trong kháng chiến chống Pháp, phụ nữ vừa là hậu phương, vừa là chiến sĩ. Những “đội quân tóc dài”, những “bà mẹ gùi gạo”, những “chị Ba đảm đang” – họ góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ.

   Năm 1950, Hội chính thức mang tên Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam – cái tên đã theo suốt đến hôm nay.

   1954 – 1975: Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang

   Thời chống Mỹ, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đi vào thơ ca:

 “Em đi tải đạn dưới mưa bom,

Tóc em cháy, vẫn thơm mùi lúa mới.”

   Ở miền Bắc – họ “Ba đảm đang”; ở miền Nam – họ chiến đấu như những người lính thực thụ. Từ chị Út Tịch, mẹ Suốt, đến Nguyễn Thị Định… họ trở thành biểu tượng của lòng quả cảm.

  1975 – 1986: Sau chiến tranh là nỗi lo cơm áo

   Đất nước thống nhất, phụ nữ lại gánh thêm phần tái thiết. Từ đống tro tàn, họ dựng lại căn nhà, ruộng lúa, mái trường. Phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” lan tỏa khắp nơi.

   1986 – nay: Vững vàng thời hội nhập

   Bước vào thời kỳ đổi mới, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam không chỉ chăm lo đời sống, mà còn thúc đẩy bình đẳng giới, khởi nghiệp, và bảo vệ quyền phụ nữ.

   Những phong trào “5 không, 3 sạch”, “Phụ nữ khởi nghiệp”, “Phụ nữ vì cộng đồng” là hình ảnh đẹp của người phụ nữ Việt trong thế kỷ XXI – hiện đại mà vẫn đằm thắm, quyết liệt mà vẫn dịu dàng.

🌿 Người giữ lửa của đất nước

   Từ người gánh gạo năm xưa đến nữ doanh nhân hôm nay – đều mang chung một sợi chỉ đỏ: lòng nhân hậu và sức sống bền bỉ.

   Ngày 20/10, ta tặng hoa, nhưng cũng là để nhớ: trên hành trình dựng nước và giữ nước, phụ nữ Việt Nam chính là nửa trái tim của Tổ quốc.

Gánh đời, gánh cả mùa hoa,

Gánh bao giông gió cũng là dịu êm.

Tay gầy mà giữ lửa bền,

Đất ươm hạt giống – mẹ hiền nở xuân.


✍️ P/s: Có lẽ, nếu một ngày nào đó, bạn gặp lại mẹ giữa buổi chợ chiều, thấy lưng mẹ hơi còng, tóc mẹ đã pha sương – hãy cúi xuống và nói một lời cảm ơn.

   Bởi nhờ có những người phụ nữ như thế, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam mới có một lịch sử không chỉ rực rỡ bằng hoa, mà còn thấm đẫm mồ hôi và nước mắt – thứ hương cổ và cũ, mà càng lâu, càng thơm. Nhân ngày 20/10, chúc các bà, các chị, các em gái luôn khỏe và vui.🌸

   ...



Chủ Nhật, 19 tháng 10, 2025

Tẽn tò

   Một mẩu chuyện vui về cậu Du mới sang Đức, vì chưa rành tiếng mà tưởng cô gái bản xứ viết thư tình cho mình chỉ vì… trong thư câu nào cũng có “Du”. Đến khi học ngôn ngữ mới biết đó chỉ là đại từ “bạn/mày/anh/em” trong tiếng Đức. Một cú “ngộ nhận đáng yêu” để thấy học ngoại ngữ đôi khi khiến tim người ta lạc nhịp rồi bật cười nhớ mãi. 😄

 Lá thư “tình” viết cho… Du?

   Ngày đầu sang Đức, thằng Du chưa kịp làm quen với thời tiết, đồ ăn đã phải làm quen ngay với một “cú sốc ngôn ngữ”. Chuyện là thế này:

   Ngôi nhà nó ở trông thì hoành tráng, độc lập, có bể bơi hẳn hoi. Sau mới biết đó không phải biệt thự mà là ký túc xá – tên Đức gọi oách lắm: Wohnheim. Trong ngôi nhà còn có một gia đình người Đức sống cùng, và quan trọng nhất: cô con gái cả tên Misa, tuổi ngoài đôi mươi, dáng người nhỏ nhắn, xinh đẹp, nụ cười thì “tươi không cần tưới”.😄

Xấu hổ  - Ảnh Internet 

   Chiều nào ra hóng gió ở góc sân, thằng Du cũng được Misa chào bằng tiếng Đức, kèm nụ cười ngọt ngào. Đang xa quê, thiếu thốn tiếng người thân, tự nhiên có người con gái bản xứ tươi cười với mình, tim thằng Du cứ rộn ràng đập như muốn nổ tung ra...

   Rồi một hôm: nó nhặt được một lá thư viết bằng tiếng Đức, cuối thư có ký tên Misa. Điều kỳ lạ là trong thư hầu như câu nào cũng có chữ Du (viết hoa). Ngắm mãi, nó đỏ cả mặt: Trời ạ, hóa ra Misa… viết thư tình cho mình?

   Từ hôm đó, chiều nào nó cũng “thủ thế” ngồi chỗ cũ, vừa hóng mát vừa mong được nhìn thấy và nghe Misa chào. Tâm trạng nó như chàng trai mới lớn – hồi hộp, ngóng trông, tim đập “thình thịch” như trống hội làng.

   Nhưng đời là thế! Không phải chuyện gì cũng đến một cách êm đẹp như ta tưởng. Vài tuần sau, thằng Du đi học tiếng Đức, mới tá hỏa: chữ “Du” kia chẳng phải tên của nó, mà chỉ là đại từ nhân xưng ngôi thứ 2 trong tiếng Đức, nghĩa của nó là: “mày, cậu, bạn, em, anh” thôi! Tức là, ai cũng có thể là “Du”, chứ chẳng riêng thằng Du.

   Thế là bức thư hóa ra… chẳng dính dáng gì đến thằng Du. Chủ nhân thật sự của nó là một anh chàng Việt Nam khác tên Quang, sau này còn thành chồng chính thức của Misa. Còn thằng Du thì chỉ biết ngồi gãi đầu cười trừ: một phen “tẽn tò vì nhận vơ” nhớ đời, xấu hổ.

😂 Câu chuyện nhỏ mà vui, để thấy: học ngoại ngữ không chỉ là mở ra thế giới mới, mà còn có thể đem lại những “trò hiểu lầm” vừa buồn cười vừa đáng nhớ.

Một chút ngẫm ngợi

   Ngôn ngữ vốn là cây cầu nối giữa con người với con người. Nhưng đôi khi, chính vì chưa hiểu hết mà ta lại bước hụt, tạo nên những hiểu lầm dở khóc dở cười. Câu chuyện thằng Du và lá thư tiếng Đức là vậy: từ một chữ “Du” vô thưởng vô phạt mà nó đã tưởng tượng ra cả một chuyện tình ngọt ngào.

   Hóa ra, trong cuộc sống, nhiều khi chỉ một chữ, một ánh mắt, một nụ cười… cũng đủ khiến trái tim rung động. Dù cuối cùng có “tẽn tò”, thì những kỷ niệm ấy vẫn đẹp, vì nó nhắc ta rằng: đi xa, học hỏi hay yêu thương đều bắt đầu từ sự hồn nhiên, tin tưởng.

   Và biết đâu, nhờ những “tai nạn ngôn ngữ” như thế mà cuộc đời thêm phần thú vị, để sau này nhớ lại, ta có thể bật cười thật thoải mái.

Chiều sân nhặt lá thư rơi,

Chữ Du lấp lánh… tưởng người thương trao.

Tim vui rộn rã biết bao,

Ngờ đâu “Du” ấy… chẳng nào dính Du.


P/s:

   Mấy mươi năm sau, nghĩ lại vẫn thấy buồn cười. Không biết vợ chồng Quang Misa đã về thăm Việt Nam mấy lần rồi? Có mấy người con?

   Đến giờ tôi vẫn nhớ hình ảnh mẹ của Misa (Bà Ken) gõ cửa cho một bát chè nấu bằng dọc mùng. 

...


Thứ Bảy, 18 tháng 10, 2025

Cũ là gì? Cổ là gì?

   Thời gian cuốn đi nhiều thứ, nhưng không thể cuốn hết ký ức.

   Trong góc nhỏ này, “Cổ và Cũ” lưu lại những chuyện xưa, người xưa, vật xưa — giản dị mà đằm sâu như khói lam chiều.

   Mỗi bài viết là một chiếc lá rơi nhẹ giữa ký ức, chạm khẽ mà khiến lòng người lặng lại.

🕰️ Cổ và Cũ: Đừng nhầm lẫn hai khái niệm tưởng giống nhau!

   Bạn có bao giờ tự hỏi: điều gì khiến một món đồ cũ trở thành cổ vật?  

   Hay tại sao có những thứ đã cũ nhưng không hề cổ?

   Trong dòng chảy của thời gian, hai khái niệm “Cổ” và “Cũ” thường bị đánh đồng. Nhưng nếu nhìn kỹ, bạn sẽ thấy: Cũ là dấu vết, Cổ là giá trị.

Trống đồng Ngọc Lũ - Ảnh Internet 

🔍 Cũ là gì?

- Là những thứ đã qua sử dụng, hao mòn theo thời gian.

- Là chiếc áo sờn vai, cuốn sách ngả màu, chiếc điện thoại đời đầu.

- Cũ thường gợi đến sự lỗi thời, bị thay thế, hoặc lãng quên.

🏛️ Cổ là gì?

- Là những gì vượt thời gian, mang giá trị văn hóa, tinh thần hoặc lịch sử.

- Là chiếc bình gốm từ triều đại xưa, là câu ca dao mẹ hát, là triết lý sống của ông bà.

- Cổ không chỉ là cũ — nó là cũ được gìn giữ, tôn vinh và truyền lại.

💡 Cũ là hình, Cổ là hồn

- Cũ 

Về thời gian: Đã qua 

Về giá trị: Hao mòn, giảm dần

Về cảm xúc gợi lên: Tiếc nuối, bỏ quên 

Ví dụ: Điện thoại Nokia 2005.

- Cổ

Về thời gian: Trường tồn 

Về giá trị: Tăng theo thời gian 

Về cảm xúc gợi lên: Trân trọng, kính yêu 

Ví dụ: Trống đồng Đông Sơn. 

🎯 Vì sao bạn nên hiểu rõ sự khác biệt?

- Tối ưu không gian sống: Biết giữ lại cái cổ, loại bỏ cái cũ.

- Tôn trọng giá trị truyền thống: Không vứt bỏ những gì mang hồn dân tộc.

- Xây dựng thương hiệu cá nhân: Biết kể câu chuyện từ những điều cổ, tạo chiều sâu cho bản thân.

📌 Kết luận: Cũ có thể bị quên, Cổ thì không.

 “Không phải mọi thứ cũ đều đáng quên, và không phải mọi thứ cổ đều nên giữ. Nhưng nếu biết nhìn bằng con mắt của sự hiểu biết, ta sẽ thấy: cái Cổ là cái Cũ đã vượt qua thử thách của thời gian.”

Cũ buồn như lá lìa cây,  

Cổ vui như rễ đâm đầy đất sâu.  

Cũ trôi theo nước qua cầu,  

Cổ neo ký ức, giữ màu thời gian.


   P/s: Nếu bạn đang giữ một món đồ cũ, một câu chuyện cũ, hay một ký ức đã lâu — đừng vội bỏ qua. Biết đâu, chỉ cần một góc nhìn khác, nó sẽ trở thành điều cổ nhất trong tim bạn.

   Bạn có đang giữ điều gì “cũ mà quý” không? Chia sẻ với mình nhé!

---

🌾 Ngày Hôm Qua Có Phải Là Cũ?

   Có người bảo, ngày hôm qua là cũ. Nhưng thử nghĩ xem — thật ra ngày hôm qua chỉ cũ khi ta không còn nhớ đến nó. Một buổi sáng xưa, tiếng chim trên mái hiên, hay ánh mắt ai đó nơi cầu sông Lô năm ấy… nếu vẫn còn đọng trong ta, thì hôm qua chưa hề qua.

   Thời gian có thể xóa dấu chân trên cát, nhưng không thể xóa dấu chân trong lòng.

   Cũ không nằm ở tuổi tháng, mà ở chỗ ta còn thấy nó rung động hay không.

   Có khi, một tấm ảnh phai màu vẫn ấm hơn nghìn khung hình mới.

   Có khi, một câu hát xưa lại khiến tim ta mềm đi giữa phố hiện đại.

   Vậy nên, đừng vội gọi “hôm qua” là cũ.

Bởi mọi điều từng làm ta thương — vẫn còn đang sống.


Ngày Hôm Qua Có Phải Là Cũ


Ngày hôm qua có phải cũ,

Hay trong tim vẫn trú một thời?

Ánh chiều còn đọng trên môi,

Nghe như gió cũ ghé chơi giữa ngày.


Thời gian xóa dấu trên tay,

Sao không xóa nổi những ngày đã thương.

Ảnh phai, lời cũ còn hương,

Ngỡ quên — lại nhớ, ngỡ thường — lại đau.


Hôm qua, chẳng ở nơi đâu,

Vẫn trong ta đó, giữa màu nắng nghiêng.


Triết lý về Cổ và Cũ 

"Cũ là thứ thời gian để lại. Cổ là thứ thời gian giữ lại.”  

   Cái cũ có thể là một vật dụng đã lỗi thời, một ký ức mờ nhạt, hay một thói quen không còn phù hợp. Nó là dấu vết của thời gian, nhưng không phải lúc nào cũng mang theo giá trị.  

   Cái cổ, ngược lại, là cái cũ đã vượt qua thử thách của năm tháng. Nó được gìn giữ, được trân trọng, và trở thành một phần của bản sắc, của trí nhớ tập thể.    

   Cũ có thể bị lãng quên. Cổ thì được truyền lại.   

   Trong đời sống, biết phân biệt giữa Cũ và Cổ là biết chọn lọc giữa cái nên buông và cái nên giữ. Là sống không chỉ cho hiện tại, mà còn biết tri ân quá khứ.

...

Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2025

Cụ Ninh

   Ký ức năm đói 1988 ở miền Bắc hiện về qua câu chuyện bốn anh em quê Sông Lô liều mình cuốn bè tre xuôi dòng về Hà Nội bán kiếm gạo. Nhân vật chính là thầy giáo Ninh – người cha nghèo nhưng giàu nghị lực. 

   Chuyến bè tre lênh đênh giữa rét sông Hồng, niềm vui lúc xuất phát và nỗi thất bát khi cập bến Chèm… tất cả gợi lại thời bao cấp gian nan mà nghĩa tình vẫn bền chặt. Một lát cắt đời sống, nhắc con cháu hôm nay biết trân trọng hiện tại và ghi nhớ quá khứ.

 Chuyến Bè Tre Xuôi Qua Hai Con Sông 

   Trong những năm tháng khó khăn của lịch sử Việt Nam, nạn đói miền Bắc 1988 vẫn là ký ức ám ảnh với bao gia đình nông thôn. Hôm nay, mình muốn kể lại một câu chuyện có thật từ quê hương, về bốn anh em liều lĩnh cuốn bè tre từ Sông Lô xuôi về Hà Nội mưu sinh, với nhân vật chính là thầy giáo Ninh – một người cha tận tụy giữa cơn đói kém. Câu chuyện không chỉ về sự vất vả mà còn về tình anh em, nghị lực sống, gợi nhớ ký ức thời bao cấp mà thế hệ trẻ cần biết.

Bè tre - Ảnh Internet 

 Năm Đói Kém 1988 Ở Miền Bắc Việt Nam

   Năm 1988, miền Bắc Việt Nam chìm trong nạn mất mùa nghiêm trọng. Hợp tác xã phân phối gạo eo hẹp, nhiều nơi dân chúng thiếu ăn triền miên. Quê mình – một làng nhỏ ven Sông Lô – cũng không ngoại lệ. Gia đình ông Ninh, một thầy giáo cấp 2 dạy học ở trường làng, là điển hình cho cảnh nghèo khó ấy. Thầy Ninh một vợ bốn con, vợ quanh năm cày cuốc trên đồng ruộng nhưng vẫn không đủ no. Lương giáo viên thời bao cấp chỉ đủ sống qua ngày, huống chi nuôi bốn miệng ăn. Thiếu ăn kéo dài khiến thầy phải nghĩ cách kiếm thêm, dù nghề dạy học vốn cao quý nhưng không cho phép "ngồi yên" giữa nạn đói.

   Đó là lúc bốn anh em ông Hồng (anh cả), ông Hoàng, ông Ninh (thầy giáo làng), và ông Dương rủ nhau liều lĩnh. Họ mua tre tươi ở quê, cuốn thành bè lớn, thả trôi từ bến phà Then Sông Lô xuôi dòng về Sông Hồng, cứ thế lênh đênh đến Hà Nội bán. Ngày ấy, buôn bán thời bao cấp khó khăn trăm bề: không xe cộ, không vốn liếng, chỉ dựa vào sức người và dòng sông. Họ hy vọng bán tre lấy tiền lãi mua gạo cứu đói cho gia đình, đặc biệt là nhà thầy Ninh với bốn đứa con thơ.

  Vui Và Khốn Khổ

   Sau khi cuốn bè xong, bốn anh em ngồi lên và thả trôi theo dòng nước xiết. Đoạn sông nào mắc cạn, họ nhảy tùm xuống đẩy bè ra dòng chảy. Ban đầu, mọi thứ thật vui: nghĩ phen này vừa du lịch trên sông vừa kiếm tiền! Họ mang rượu và cá khô ra "liên hoan" giữa sông nước mênh mông, cười đùa như quên hết cái đói quê nhà.

   Nhưng sông nước không dễ chịu. Lênh đênh mấy tiếng đồng hồ dưới gió rét căm căm, thầy Ninh – người yếu hơn vì hàng ngày dạy học chứ không quen lao động nặng – bắt đầu cảm lạnh. Bụng thì đói, thầy nằm co ro trên bè, tóc tai râu ria bờm xờm. Mấy anh em khỏe mạnh tìm chỗ kín gió, lấy quần áo ủ ấm cho thầy. Một thầy giáo cấp 2, trụ cột gia đình một vợ bốn con, giờ đây phải chịu cảnh ấy chỉ để kiếm miếng ăn – nghĩ mà xót xa!

 Bị Ép Giá 

   Về đến bến Chèm Hà Nội, bè tre được các đầu nậu tiếp cận "hỗ trợ". Thấy thầy Ninh nằm bất động, họ hỏi: "Cụ kia làm sao đấy, sống hay chết?" Vất vả quá, cộng với bị ép giá thảm hại, bốn anh em đành bán vội lấy tiền vốn . Không lãi lời gì, họ lôi thôi lếch thếch qua chợ mua mấy cân thịt sỏ lợn, dẫn nhau vào nhà đứa em ở Cầu Giấy nấu nướng nghỉ ngơi. Chiều tối, ra ga Trần Quý Cáp (nay là Ga Hà Nội) bắt tàu về quê.

   Chuyến đi thất bát, nhưng đó là minh chứng cho nghị lực mưu sinh thời kỳ đói kém. Thầy Ninh, với nghề dạy học, vẫn hy sinh vì vợ con. Gần 40 năm trôi qua (từ 1988 đến nay), không biết các cụ còn nhớ không? Có lẽ ký ức này vẫn sống mãi, như bài học về tình thân và sự kiên cường.

 Ôn Lại Quá Khứ Để Trân Trọng Hiện Tại

   Nạn đói 1988 miền Bắc dạy chúng ta về sự gắn bó gia đình, về những chuyến đi mạo hiểm để sống sót. Thầy giáo Ninh và anh em đã vượt qua khó khăn bằng sức mạnh tình thân và ý chí sắt đá. Ngày nay, khi cuộc sống sung túc hơn, hãy kể những câu chuyện như thế cho con cháu nghe. Nếu bạn có ký ức thời bao cấp tương tự, hãy chia sẻ bên dưới nhé!

...

   P/s: Hiện nay, mấy anh em đã cao tuổi nhưng vẫn khỏe mạnh. Có điều kiện tổ chức một chuyến đi về chú em ở Cầu Giấy thì hay quá. 


Thứ Năm, 16 tháng 10, 2025

Cái Quạt Kéo

  Bài viết sau đây do tác giả Hà Đình Trưởng gửi tới, tôi xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.  


   Câu chuyện ấm áp về chiếc quạt kéo lá cọ - sáng tạo của tuổi thơ nghèo, gợi lại những buổi trưa quạt cho ông nội và làn gió mát lành của kỷ niệm xưa.

🌾 Cái Quạt Kéo — Kỷ Niệm Mát Lành Thời Thơ Ấu

   Có những kỷ niệm tưởng nhỏ như làn gió, nhưng lại mát lành suốt cả một đời người. Cái quạt kéo ngày ấy không chỉ quạt gió — mà quạt cả tình thương, tuổi thơ, và tiếng cười của một thời nghèo khó.

Quạt Kéo - Ảnh Internet 

🌀 Sáng tạo của tuổi thơ nghèo

   Trong làng tôi ngày ấy, chẳng ai có “quạt kéo” cả, nên cái quạt đặc biệt ấy có lẽ là sáng tạo của anh em chúng tôi. Chỉ hai tàu lá cọ xếp ngược nhau, nẹp bằng thanh tre, cắt vuông hình chữ nhật. Buộc dây treo lên giữa nhà, thêm sợi dây kéo bên dưới — thế là có gió mát rồi.

   Hồi đó, chưa có quạt trần, chưa có điện, nhưng trong căn nhà nhỏ, tiếng quạt lá cọ sột soạt lại là âm thanh của niềm vui.

👴 Những buổi trưa quạt cho ông nội

   Ông nội tôi khi ấy tuổi đã cao, lại mắc bệnh mà người xưa gọi là “phong tê thấp”, giờ thì người ta bảo là “tai biến”. Vào những hôm trời nóng, anh em chúng tôi thay nhau kéo quạt cho ông ngủ.

   Thỉnh thoảng, đứa này đùn đẩy đứa kia, ông giận, lặng im, rồi lại mỉm cười khi rút trong túi ra vài viên kẹo, dúi gói bích quy — như phần thưởng để chúng tôi ngồi yên. Ông biết chúng tôi thích kẹo mà.

🍃 Kỷ niệm không phai

   Giờ chúng tôi đã tóc bạc, cũng đã làm “ông” cả rồi. Nghĩ lại, vừa buồn cười, vừa thương. Những chuyện tưởng nhỏ nhoi ngày bé, lại thành kỷ niệm khắc sâu nhất trong đời.

   Cái quạt kéo ấy — vụng về, đơn sơ nhưng chứa chan tình thương — là dấu ấn của một thời, của ông bà, và của tuổi thơ nghèo mà ấm áp biết bao.

Trẻ em nông thôn xưa - Ảnh Internet 


   P/s: 

   Mọi người góp ý để Ban Biên Tập hoàn thiện, nhất là hình ảnh cái quạt kéo bằng lá cọ hoặc ảnh của Ông Nội. 


Thứ Tư, 15 tháng 10, 2025

Tình Yêu Không Có Tuổi

   Câu chuyện hài hước mà ấm áp về ông Tập 85 tuổi và bà Bành 77 tuổi ở Tam Sơn. Sau hơn nửa thế kỷ gắn bó, tình yêu của ông bà vẫn “nóng” như thuở đôi mươi. Một ngày đẹp trời, camera trong nhà vô tình ghi lại cảnh “cãi nhau” đầy đắm say của đôi vợ chồng già, khiến con cháu vừa sốc vừa bật cười vì mừng. Tình yêu đúng là không có tuổi, chỉ cần yêu thì trái tim vẫn trẻ mãi! 😄💞

Tình Yêu Vẫn "Nóng" Như Thuở 20!

   Hỡi ôi! nếu bạn nghĩ tuổi già là lúc chỉ để ngồi uống trà, ngắm hoa và kể chuyện xưa, thì xin mời bạn nghe câu chuyện về ông Tập và bà Bành – cặp đôi “vàng” đã chứng minh rằng tình yêu không có tuổi, còn công nghệ thì... có khi đi trước cả ông bà!

Camera giám sát - Ảnh Internet 

Câu chuyện tình yêu vẫn “nóng” sau hơn nửa thế kỷ

   Ông Tập , 85 tuổi, và bà Bành 77 tuổi, người bạn đời đồng hành qua bao năm tháng, là cặp đôi giáo viên về hưu sống tại Tam Sơn.

   Mặc dù tuổi đã cao, nhưng ông bà có chế độ ăn uống rất đều đặn và khoa học. Buổi sáng sau khi tập vài động tác thể dục, ông bà ăn nhẹ, nhâm nhi ly cà phê hoặc cốc sữa nóng. 

  Sau đó, ông bà ra vườn bắt sâu, nhổ cỏ, vun trồng cho vườn cây cảnh và mấy luống rau xanh. Mùa nào thức ấy, hầu như ông bà không phải mua rau ngoài chợ. Nhờ chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý mà mặc dù cao tuổi ông bà vẫn luôn khỏe mạnh. 

   Ở Việt Nam, có câu ngạn ngữ “Trẻ cậy cha, già cậy con”. Dù ông Tập và bà Bành có lương hưu ổn định, các con vẫn luôn túc trực chăm sóc bố mẹ. Nhưng cuộc sống thời cơ chế thị trường thì bận rộn, con cái thường xuyên công tác xa, nên giải pháp công nghệ được áp dụng: lắp camera để giám sát ông bà từ xa. Ai ngờ, chính cái camera ấy lại trở thành “nhân chứng” cho một câu chuyện dở khóc dở cười!

Thằng Hải và phát hiện “động trời”

   Thằng Hải, con trai ông Tập, là một trong những người con bận rộn với những chuyến công tác dài ngày. Một buổi sáng mùng 10 tháng 10, đúng ngày Giải phóng Thủ đô, Hải vừa kết thúc phiên làm việc ở Hà Tĩnh thì mở điện thoại kiểm tra camera ở nhà. Và rồi... ôi trời ơi! Trước mắt Hải là một “cảnh nóng” không ai ngờ tới: ông Tập và bà Bành đang “cãi nhau” như thuở đôi mươi! Hải vừa sốc vừa bật khóc – nhưng là giọt nước mắt sung sướng, vì bố mẹ mình vẫn khỏe mạnh, vẫn yêu nhau tha thiết đến thế ở tuổi gần đất xa trời.

Ông Tập và Bà Bành - Ảnh Internet 

   Ông bà, vốn là cán bộ nhà nước về hưu, đâu có quen với chuyện camera hiện đại. Họ hồn nhiên sống trong thế giới của riêng mình, không hay biết mọi khoảnh khắc đều đã bị “ghi hình” rõ nét!

Cao trào trong bữa tiệc gia đình

   Đến một buổi họp mặt đại gia đình, khi mọi người đang vui vẻ, Hải không nhịn được mà tung chiêu trêu đùa. Thằng con trai láu cá lên tiếng: “Hôm nay bố mẹ thể hiện cho các con xem nào!” Ông Tập ngơ ngác: “Xem cái gì mới được cơ chứ?” Hải cười phe phé, bồi thêm: “Xem cái buổi sáng mùng 10 tháng 10 ấy, ngày Giải phóng Thủ đô, ông bà "cãi nhau"... cái gì ấy!”

   Ông Tập ban đầu chối bay chối biến: “Làm gì có, già rồi, đâu còn trẻ như chúng mày!” Nhưng khi Hải lôi cái clip ra làm bằng chứng, cả nhà cười nghiêng ngả. Ông Tập lúc này chỉ biết cười trừ và..., chắc trong lòng cũng tự hào vì “vẫn còn phong độ”!

Tình yêu vẫn là “gia vị” của cuộc sống

   Câu chuyện về ông Tập và bà Bành không chỉ hài hước mà còn đầy cảm hứng. Nó nhắc chúng ta rằng:

   Tình yêu không có tuổi: Dù ở tuổi 85, ông Tập và bà Bành vẫn giữ được ngọn lửa tình yêu như thuở ban đầu. Ai bảo người lớn tuổi chỉ biết kể chuyện xưa?

   Công nghệ là con dao hai lưỡi: Camera giúp con cái yên tâm theo dõi bố mẹ, nhưng cũng có thể ghi lại những khoảnh khắc “nhạy cảm” mà ông bà không ngờ tới!

   Gia đình là nơi yêu thương và trêu đùa: Thằng Hải không chỉ chăm sóc bố mẹ mà còn biết cách mang lại tiếng cười cho cả nhà, dù có làm ông Tập “muối mặt” đôi chút.

Hãy yêu như Ông Tập, nhưng cẩn thận với cái Camera!

   Câu chuyện của ông Tập và bà Bành là minh chứng sống động cho tình yêu vĩnh cửu và những tình huống dở khóc dở cười mà công nghệ mang lại. Nếu bạn cũng có những câu chuyện gia đình hài hước hoặc cảm động, hãy chia sẻ với chúng tôi nhé! Và đừng quên, nếu nhà có camera, hãy kiểm tra kỹ trước khi... “cãi nhau” như ông bà nhé! 😄

   Bạn nghĩ gì về câu chuyện này? Comment ngay để kể về những khoảnh khắc đáng nhớ trong gia đình bạn!

Tình già đâu có chịu già,

Cười ra nước mắt — thương nhiều hơn chê!


   P/s: Bạn đã cười nghiêng ngả với câu chuyện của ông Tập và bà Bành chưa? Nếu nhà bạn cũng có những khoảnh khắc “hài hước bất ngờ” hay kỷ niệm đáng nhớ về tình yêu, gia đình, hãy chia sẻ ngay dưới phần bình luận để mọi người cùng vui! Và đừng quên, nếu có camera trong nhà, kiểm tra kỹ trước khi “cãi nhau” nhé, kẻo lại bị con cháu trêu như thằng Hải đấy!

Thứ Ba, 14 tháng 10, 2025

Nhớ gì viết nấy

   Ký ức về một đêm bên hồ Ngọc Khánh hơn hai mươi năm trước, khi một hành động giúp người bất ngờ đã trở thành dấu mốc lặng lẽ nhưng đầy ý nghĩa trong cuộc đời.

Ký Ức Bên Hồ Ngọc Khánh

   Tôi không nhớ chính xác năm đó là năm nào, có lẽ là 2001 hay 2002 gì đó. Hồi ấy, cuộc sống của tôi xoay quanh guồng quay công việc bận rộn. Sáng sớm đã phải đến cơ quan, nên chỉ đến tối, tôi mới có thời gian đi bộ quanh hồ Ngọc Khánh để tập thể dục, hít thở không khí trong lành. Thời điểm đó, hồ Ngọc Khánh chưa được cải tạo như bây giờ. Xung quanh bờ hồ là những viên gạch xi măng lát dốc, hoa văn đơn giản (gạch taluy trồng cỏ), lấp loáng ánh đèn đường phản chiếu trên mặt nước.


Hồ Ngọc Khánh nay 

                                                                
   Một buổi tối, khi tôi đang đi bộ như thường lệ, một sự việc bất ngờ xảy ra. Một cậu thanh niên, dáng vẻ hớt hải, chạy đến bên tôi, giọng nói gấp gáp: “Chú ơi, chú! Chú cứu nó, không nó chết mất! Cháu nói thật đấy, có đứa con gái vừa nhảy xuống hồ, chỗ này này, chú ơi!”. Tôi giật mình, dừng bước, cố gắng nhìn xuống mặt nước. Đêm tối, ánh đèn đường loang loáng, tôi cúi rạp người quan sát, nhìn sang bờ bên kia nhưng chẳng thấy gì ngoài những mảng sáng tối nhập nhòa.

   Cậu thanh niên vẫn không ngừng giục giã: “Chú ơi, chú! Nhanh lên không nó chết mất!”. Không kịp suy nghĩ nhiều, tôi nhảy tùm xuống hồ. Nước lạnh thấm qua quần áo, tôi bám tay vào viên gạch ở bờ hồ, chân quờ quạng dưới nước để tìm. Bỗng “kịch” một cái, chân tôi chạm phải thứ gì đó. Tôi thò tay xuống, túm được áo, lấy hết sức kéo mạnh. Một cô gái trồi lên khỏi mặt nước, tóc tai, quần áo ướt dính bết, thân hình bất động.

  Lúc này, vài người đi đường bắt đầu tụ lại. Họ hỗ trợ tôi, cùng kéo cô gái lên bờ, đặt cô nằm trên hai hòn đá lớn. Đầu cô nghẹo sang một bên, nước từ miệng ộc ra, và tôi thấy tay cô bắt đầu cử động yếu ớt – dấu hiệu của sự sống. Đám đông dần đông hơn, mọi người xúm lại giúp đỡ. Tôi lặng lẽ rút lui, bước đi trong cái lạnh buốt của gió đêm. Người ướt sũng, rét run, tôi thu mình hết cỡ, cố lê bước về nhà.

   Về đến nhà, thay bộ quần áo khô, người ấm dần lên, tôi kể lại câu chuyện cho gia đình nghe. Nhưng chẳng ai tin. Họ cười, bảo rằng chắc tôi uống chút rượu trong bữa tối rồi ngã xuống hồ, tự tưởng tượng ra chuyện cứu người. Tôi chỉ cười trừ, không tranh cãi. Chuyện đã xảy ra, tôi biết rõ mình đã làm gì, thế là đủ.

   Hơn hai mươi năm trôi qua, ký ức ấy vẫn còn nguyên vẹn. Tôi viết lại câu chuyện này không vì mục đích gì lớn lao, chỉ đơn giản là muốn lưu giữ một khoảnh khắc, một kỷ niệm. Đêm ấy, bên hồ Ngọc Khánh, tôi đã làm một điều mà đến giờ tôi vẫn thấy là đúng. Chỉ thế thôi.

P/s: Hai hòn đá nay vẫn còn, mỗi lần đi bộ lại nhìn hai hòn đá như hai người bạn thân có cùng một kỷ niệm. 


---



Thứ Hai, 13 tháng 10, 2025

Bức Tường Berlin: Câu Chuyện Lịch Sử và Khát Vọng Tự Do

   Bức tường Berlin – Biểu tượng chia rẽ của Chiến tranh Lạnh và hành trình thống nhất nước Đức. Từ xây dựng năm 1961 đến sụp đổ năm 1989, bức tường đã ghi dấu khát vọng tự do mãnh liệt của con người và trở thành bài học lịch sử về đoàn kết và quyền con người. Bức tường này không chỉ chia cắt một thành phố mà còn chia rẽ cả một dân tộc.

 1. Bức tường Berlin là gì?

   Bức tường Berlin (Tiếng Đức - Berliner Mauer) được xây dựng vào ngày 13 tháng 8 năm 1961 bởi Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức, có sự giúp đỡ của LiênXô) để ngăn cách Đông Berlin và Tây Berlin. Với chiều dài khoảng 155 km, bức tường này được dựng lên để ngăn chặn người dân Đông Đức chạy sang Tây Berlin – nơi được xem là "cửa ngõ tự do" trong thời kỳ Chiến tranh lạnh.

Bức Tường Berlin - Ảnh Internet 

  Tại sao bức tường Berlin được xây dựng?

- Bối cảnh lịch sử: Sau Thế chiến II, Đức bị chia thành Đông Đức (theo chủ nghĩa cộng sản) và Tây Đức (theo chủ nghĩa tư bản). Berlin, dù nằm trong Đông Đức, cũng bị chia thành Đông và Tây Berlin.

- Cuộc "chảy máu chất xám": Từ 1949 đến 1961, khoảng 2,5 triệu người Đông Đức đã di cư sang Tây Đức qua Tây Berlin, gây khủng hoảng cho Đông Đức.

- Mục đích: Chính quyền Đông Đức tuyên bố bức tường là “Tường bảo vệ chống phát xít” để ngăn chặn ảnh hưởng từ phương Tây, nhưng thực tế là để giữ người dân không rời bỏ đất nước.

 2. Cấu trúc và sự tàn khốc của Bức tường

   Bức tường Berlin không chỉ là một hàng rào bê tông mà là một hệ thống phòng thủ phức tạp:

- Chiều cao và chiều dài: Cao 3,6 m, dài 155 km, bao quanh Tây Berlin.

- Dải tử thần: Khu vực nguy hiểm giữa hai lớp tường, được trang bị mìn, dây thép gai, tháp canh (302 tháp), và lính gác.

- Các trạm kiểm soát: Nổi tiếng nhất là Checkpoint Charlie, nơi xảy ra nhiều sự kiện căng thẳng giữa Đông và Tây.

   Ít nhất 140 người đã thiệt mạng khi cố vượt qua bức tường, từ bị bắn chết đến tai nạn. Những câu chuyện như Peter Fechter (một thanh niên bị bắn chết năm 1962) hay Conrad Schumann (lính Đông Đức nhảy qua hàng rào dây thép gai) đã trở thành biểu tượng của khát vọng tự do.

 3. Sự sụp đổ của bức Tường Berlin (9/11/1989)

   Ngày 9 tháng 11 năm 1989 đánh dấu một bước ngoặt lịch sử khi Bức tường Berlin sụp đổ. Sự kiện này không chỉ kết thúc sự chia rẽ của Berlin mà còn mở đường cho sự thống nhất nước Đức.

 Điều gì đã dẫn đến sự sụp đổ?

- Áp lực từ người dân: Các cuộc biểu tình ôn hòa ở Đông Đức, đặc biệt tại Leipzig, đòi hỏi tự do đi lại.

- Sai lầm lịch sử: Trong một buổi họp báo, quan chức Đông Đức Günter Schabowski vô tình tuyên bố rằng người dân có thể vượt biên “ngay lập tức”. Hàng ngàn người đổ đến bức tường, buộc lính gác mở cửa.

- Hình ảnh biểu tượng: Người dân Đông và Tây Berlin cùng nhau phá tường, ôm nhau trong niềm vui đoàn tụ.

   Sự sụp đổ của bức tường là khởi đầu cho sự thống nhất nước Đức vào năm 1990 và đánh dấu sự suy yếu của khối Đông Âu trong Chiến tranh lạnh.

 4. Di sản của Bức tường Berlin hôm nay

   Dù đã sụp đổ hơn 36 năm, Bức tường Berlin vẫn là một biểu tượng mạnh mẽ về sự đấu tranh cho tự do. Một số di tích vẫn còn tồn tại:

- East Side Gallery: Đoạn tường dài 1,3 km được các nghệ sĩ từ khắp thế giới vẽ tranh, với các tác phẩm nghệ thuật về hòa bình và đoàn kết.

- Đài tưởng niệm Bernauer Straße: Nơi tái hiện “dải tử thần” và kể câu chuyện của những nạn nhân.

- Kỷ niệm hàng năm: Ngày 9 tháng 11 được tổ chức với các sự kiện như thắp nến và triển lãm.

   Bức tường cũng xuất hiện trong văn hóa đại chúng, từ phim ảnh (Good Bye, Lenin!) đến âm nhạc (Wind of Change của Scorpions), nhắc nhở chúng ta về giá trị của tự do và đoàn kết.

 5. Vì sao Bức tường Berlin vẫn quan trọng?

   Bức tường Berlin không chỉ là một phần của lịch sử Đức mà còn là bài học toàn cầu về sự chia rẽ và khát vọng thống nhất. Nó nhắc nhở chúng ta:

- Tầm quan trọng của tự do đi lại và quyền con người.

- Sức mạnh của sự đoàn kết và biểu tình ôn hòa.

- Tác động của những quyết định chính trị đối với đời sống con người.

   Nếu bạn có cơ hội đến Berlin, đừng bỏ lỡ cơ hội ghé thăm East Side Gallery hoặc Bảo tàng Bức tường Berlin để cảm nhận sâu sắc hơn về câu chuyện này.

   Bạn đã từng nghe câu chuyện nào về Bức tường Berlin? Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn trong phần bình luận.


Berlin tường đá ngăn đôi,

Đông Tây cách biệt, lòng người xót xa.

Tự do khát vọng thiết tha,

Tường tan ngày ấy, chan hòa niềm vui!


P/s: Bức tường Berlin gợi nhớ khát vọng tự do. Ghé East Side Gallery (Phòng trưng bày Phía Đông) để thấy di sản hòa bình!


---



Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2025

Hoạn sắn cứu đói

   Ký ức về kỹ thuật “hoạn sắn” của bà nội trong những tháng giáp hạt nơi nông thôn Việt Nam. Câu chuyện giản dị về tình thương, sự khéo léo và nghị lực của người phụ nữ tảo tần đã biến những củ sắn non thành nguồn sống cho cả gia đình trong thời buổi khó khăn.

Sắn tươi 

Ký ức về Bà Nội trong những tháng giáp hạt 

   Trong ký ức tuổi thơ của tôi, hình ảnh bà nội còng lưng trên đồi sắn, cẩn thận đào từng củ sắn non để mang về cứu đói gia đình trong những tháng giáp hạt, luôn là một kỷ niệm không thể phai mờ. "Hoạn sắn" – một thuật ngữ dân dã mà có lẽ không nhiều người biết đến – đã trở thành biểu tượng của sự khéo léo, bền bỉ và tình yêu thương của bà trong những năm tháng khó khăn nhất.

"Hoạn sắn" là gì?

   Từ "hoạn" thường khiến người ta nghĩ đến những khái niệm xa xôi như hoạn lợn, hoạn gà, hay thậm chí hoạn quan trong lịch sử. Nhưng với bà nội tôi, "hoạn sắn" là một kỹ thuật sinh tồn: đào lấy những củ sắn non to nhất để ăn, đồng thời để lại những củ nhỏ trong đất để chúng tiếp tục lớn lên. Đây không chỉ là một cách thu hoạch sắn mà còn là chiến lược quản lý nguồn lương thực trong những tháng giáp hạt – tháng ba và tháng tám âm lịch – khi kho lúa cạn kiệt mà vụ mùa mới chưa đến.

Ảnh Bà nội - do tưởng tượng 

   Bà nội tôi thường nói: “Sắn là bạn của người nghèo. Nếu biết cách, nó sẽ cứu cả nhà qua cơn đói.” Và "hoạn sắn" chính là cách mà bà biến cây sắn thành nguồn sống cho cả gia đình.

 Tháng giáp hạt: Thời kỳ khó khăn của Nông thôn

   Ở nông thôn Việt Nam, tháng ba và tháng tám âm lịch thường là thời điểm giáp hạt, khi vụ mùa cũ đã hết và vụ mới chưa thu hoạch. Những năm kinh tế khó khăn, khi chiến tranh, đói nghèo và thiếu thốn bủa vây, sắn trở thành nguồn lương thực cứu đói quan trọng. Cây sắn dễ trồng, chịu được đất xấu, và có thể thu hoạch linh hoạt, từ sắn non đến sắn già. Nhưng điều đặc biệt ở bà nội tôi là cách bà "hoạn sắn" – không đào hết cả khóm mà chỉ chọn những củ to nhất, để lại củ nhỏ cho tương lai.

   Hành động này không chỉ thể hiện sự hiểu biết về cây sắn mà còn là sự tính toán khôn ngoan, đảm bảo gia đình có cái ăn ngay lập tức mà vẫn giữ được nguồn sắn cho những ngày sau.

 Kỹ thuật "Hoạn sắn" của Bà Nội

   Bà nội tôi không bao giờ giải thích rõ "hoạn sắn" là gì, nhưng qua những lần theo bà ra đồi, tôi dần hiểu. Vào những ngày giáp hạt, bà cầm cuốc, cẩn thận đào quanh gốc sắn, tìm những củ non to nhất – thường là những củ đã đủ để luộc ăn hoặc chế biến thành bột. Những củ nhỏ, bà nhẹ nhàng để lại trong đất, phủ đất kín và tiếp tục chăm sóc. “Củ nhỏ để nó lớn, đừng tham mà đào hết, con ạ,” bà thường dặn.

   Kỹ thuật này không chỉ giúp gia đình có lương thực trong lúc đói mà còn đảm bảo cây sắn tiếp tục sinh trưởng. Sắn non, khi luộc lên, có vị ngọt nhẹ, mềm và dễ ăn, là món ăn chính trong những bữa cơm đạm bạc. Đôi khi, bà còn phơi khô sắn hoặc giã thành bột để dự trữ, giúp gia đình cầm cự qua những ngày khó khăn.

 Vai trò của sắn trong đời sống Nông thôn

   Sắn không chỉ là một loại cây lương thực mà còn là biểu tượng của sự kiên cường trong văn hóa nông thôn Việt Nam. Trong những năm 1960-1980, khi đất nước còn đối mặt với chiến tranh và đói nghèo, sắn là nguồn sống của hàng triệu gia đình. Theo thống kê, sắn là một trong những cây trồng có năng suất cao, có thể đạt 20-30 tấn/ha trong điều kiện tốt, và dễ bảo quản hơn lúa gạo.

   Việc "hoạn sắn" của bà nội tôi là một minh chứng cho sự sáng tạo của người nông dân Việt Nam trong việc tận dụng tối đa nguồn tài nguyên sẵn có. Không chỉ cung cấp thức ăn, sắn còn được dùng làm thức ăn chăn nuôi hoặc nguyên liệu cho nhiều món ăn dân dã như bánh sắn, xôi sắn, canh sắn...

 Ký ức về Bà và bài học về sự Nhẫn nại 

   Hình ảnh bà nội cặm cụi trên đồi sắn, đôi tay gầy guộc nhưng đầy nghị lực, đã dạy tôi nhiều bài học quý giá. Đó là bài học về sự tiết kiệm, về cách sống hài hòa với thiên nhiên, và về tình yêu thương gia đình. Nhờ "hoạn sắn," gia đình tôi đã vượt qua những tháng ngày đói kém, và tôi học được rằng ngay cả trong khó khăn, sự khéo léo và kiên nhẫn có thể tạo nên kỳ tích.

   Ngày nay, khi cuộc sống đã bớt khó khăn, cây sắn có thể không còn là nguồn lương thực chính, nhưng câu chuyện về "hoạn sắn" của bà nội vẫn là một phần ký ức không thể quên. Nó nhắc nhở tôi về giá trị của lao động, sự sáng tạo, và tinh thần vượt khó của người nông dân Việt Nam.

 Kết Lại 

   "Hoạn sắn" không chỉ là một kỹ thuật nông nghiệp mà còn là một câu chuyện về sự sinh tồn, tình yêu thương và sự khéo léo của người phụ nữ nông thôn Việt Nam. Trong những tháng giáp hạt, khi cái đói rình rập, chính những củ sắn non được bà nội tôi cẩn thận "hoạn" đã giúp gia đình vượt qua khó khăn. Câu chuyện này không chỉ là ký ức cá nhân mà còn là một phần của văn hóa Nông thôn Việt Nam, nơi cây sắn và những bài học từ thế hệ đi trước vẫn mãi trường tồn.

   Nếu bạn cũng có những câu chuyện về cây sắn hay ký ức về những tháng giáp hạt, hãy chia sẻ để chúng ta cùng giữ gìn những giá trị đẹp đẽ của quá khứ!


   P/S: Ký ức về bà nội và những lần "hoạn sắn" không chỉ là câu chuyện của riêng gia đình tôi, mà còn là một phần di sản văn hóa của người nông dân Việt Nam. Nếu bạn cũng có những kỷ niệm về sắn, về tháng giáp hạt, hay về những người thân yêu đã giúp gia đình vượt qua khó khăn, hãy chia sẻ để chúng ta cùng lưu giữ những giá trị quý báu ấy!


Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2025

Cây chè của bà tôi

   Một câu chuyện ấm áp về cây chè trong khu vườn xưa của bà nội. Dưới tán lá xanh đã từng nuôi sống cả gia đình là tình yêu thương, sự tảo tần và những ký ức không phai mờ. Nhân dịp giỗ bà lần thứ 42, ký ức ấy lại nở hoa như lá chè đầu mùa.

Cây chè: Ký ức đẹp về Bà nội và tình yêu thương đời thường

   Bạn có bao giờ nghĩ một cái cây có thể trở thành nhân chứng thầm lặng cho câu chuyện đời người? Với tôi, cây chè trong khu vườn của bà nội là như vậy. Hành trình của cây chè không chỉ là hành trình của thiên nhiên mà còn là hành trình của tình yêu, sự tảo tần và những kỷ niệm không phai mờ. Hãy cùng tôi khám phá câu chuyện xúc động này, được kể lại nhân dịp ngày giỗ thứ 42 của bà.

Cây chè của bà nội tôi 

 Cây chè và những ngày tuổi thơ tôi 

   Khu vườn nhà ông bà tôi từng là một "thế giới xanh" với đủ loại cây: mít, cọ, nhãn, vải... Nhưng trong số đó, cây chè là "người bạn thân" đặc biệt của bà nội. Tôi không rõ cây chè có từ bao giờ, nhưng khi tôi còn nhỏ - cách đây hơn 70 năm - nó đã cao lớn như trong bức ảnh tôi chụp lại. Với tuổi thọ có thể lên đến hàng trăm năm, cây chè này đã chứng kiến biết bao thăng trầm của gia đình.

   Hằng ngày, bà nội tôi cần mẫn hái những lá chè. Với chiếc giành nhỏ đeo trên vai và cái thang tre, bà đứng dưới đất hái những lá ở cành thấp, bắc thang trèo lên cao để hái những lá trên cành cao. Sáng hái, chiều bán, lá chè không chỉ là nguồn sống mà còn là "người bạn đồng hành" nuôi sống ông bà và cả gia đình qua những năm tháng khó khăn nhất.

 Cây chè - Nhân chứng của tình yêu và sự hy sinh

   Năm 1983, bà nội tôi qua đời ở tuổi 83, để lại khoảng trống lớn trong lòng gia đình. Cây chè, như một người bạn trung thành, vẫn đứng đó, tiếp tục sống cho đến năm 2018. Có thể nói, cây chè không chỉ là tài sản vật chất mà còn là ký ức sống động về sự tảo tần của bà. Những lá chè xanh ngày ấy đã trở thành biểu tượng của tình yêu thương vô điều kiện mà bà dành cho gia đình.

 Ký ức vẫn sống mãi trong từng lá chè

   Nay, cả bà nội và cây chè đã ra đi mãi mãi, nhưng ký ức về bà vẫn khắc sâu trong tôi. Nhân dịp ngày giỗ thứ 42 của bà (ngày 22/08/2025 âm lịch), tôi viết lại những dòng này để tưởng nhớ bà - người bà đã dạy tôi về giá trị của lao động và tình thân. Cây chè, dù không còn, nhưng vẫn là nguồn cảm hứng để tôi kể lại câu chuyện này cho thế hệ sau.

 Cây chè quan trọng với văn hóa Việt Nam.

   Ở Việt Nam, cây chè không chỉ là một loại cây kinh tế mà còn gắn bó sâu sắc với đời sống văn hóa. Từ những buổi trà sáng hay chiều đậm đà hương vị đến câu chuyện về sự kiên trì của người nông dân, chè là minh chứng cho tinh thần lao động cần cù. Nếu bạn cũng có những kỷ niệm với cây chè hoặc khu vườn gia đình, hãy chia sẻ với tôi nhé!

 Gìn giữ ký ức qua câu chuyện cây chè

   Cây chè của bà nội không chỉ là một cái cây, mà là một phần của lịch sử gia đình tôi. Dù thời gian có trôi qua, nhưng những ký ức đẹp về bà và cây chè vẫn luôn tươi mới. 

   Bạn có muốn lưu giữ câu chuyện của riêng mình? Hãy bắt đầu bằng cách ghi lại những kỷ niệm và chia sẻ chúng!


   P/S: Nếu bạn cũng có những kỷ niệm đẹp về bà nội hay bà ngoại hoặc cây chè... trong gia đình, hãy ghi lại và chia sẻ để giữ gìn những giá trị truyền thống. Đừng quên ghé thăm khu vườn xưa để tìm lại cảm xúc, và mang theo máy ảnh để lưu giữ những khoảnh khắc quý giá!

...

Thứ Tư, 8 tháng 10, 2025

Hoàng Thành Thăng Long - Hà Nội

   Hoàng Thành Thăng Long như một trái tim cũ kỹ vẫn kiên trì đập giữa lòng Hà Nội. Mỗi phiến đá, mỗi bậc thềm nơi Đoan Môn hay nền điện Kính Thiên đều như có lớp bụi thời gian bám lại, thì thầm câu chuyện của các triều vua đã khuất. Ta bước chậm qua những vòm cổng rêu xanh, nghe tiếng quân lính đời Lý dậm chân, tiếng trống trận thời Trần còn ngân đâu đó. Cả kinh thành rồng bay nằm yên đó, trầm tĩnh mà kiêu hùng, nhắc nhở rằng giữa đô thị ồn ã hôm nay vẫn có một miền quá khứ đang lặng lẽ giữ hộ chúng ta niềm tự hào ngàn năm.

🏯 Hoàng Thành Thăng Long – Di sản nghìn năm và văn bia tưởng niệm lịch sử

   Hoàng Thành Thăng Long không chỉ là trung tâm quyền lực chính trị của các triều đại Việt Nam suốt hơn một thiên niên kỷ, mà còn là nơi lưu giữ những dấu tích văn hóa, kiến trúc và tâm linh đặc sắc. Trong số đó, các bia đá cổ là minh chứng sống động cho lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.

📍 Giới thiệu về Hoàng Thành Thăng Long
   

Trung Tâm Hoàng Thành Thăng Long  - Điện Kính Thiên 
                                                        
   Nằm giữa lòng Hà Nội, Hoàng Thành Thăng Long được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới năm 2010. Đây là trung tâm hành chính – quân sự của các triều đại Lý, Trần, Lê và Nguyễn, với các công trình tiêu biểu như:
  • Điện Kính Thiên – nơi thiết triều của vua.
  • Đoan Môn – cổng chính vào hoàng cung.
  • Bắc Môn – lầu canh giữ phía Bắc thành.

   🪨 Văn bia tưởng niệm Hoàng Thành Thăng Long

   Một trong những phiến đá nổi bật tại khu di tích là bia tưởng niệm ghi lại công tích xây dựng, tu bổ và ý nghĩa biểu tượng của Hoàng Thành. Dưới đây là bản văn bia nguyên gốc, được dựng lại theo phong cách cổ:

Văn bia tưởng niệm 

                                                                                  📜 Văn bia gốc (chữ Hán)
昇龍皇城碑記

維大越國,地靈人傑,山川秀美,氣象萬千。  
自李朝開國,建都於昇龍,歷代帝王繼承基業,  
修城築殿,威儀煌煌。

皇城者,國之根本,帝之所居,文武百官朝參之地。  
城中有殿敬天,門端門,樓北門,  
皆象徵天命與王道。

至於此石,刻記功績修補城池,想念功臣,留傳後世。  
龍盤虎踞,風水地靈,象徵國泰民安,萬世不朽。

歲在庚寅,月在仲秋,日在癸丑,  
立石於皇城之門,以誌千秋之盛。

謹記。

🪷 Bản dịch Hán – Nôm

Thăng Long Hoàng Thành Bi Ký

   Duy Đại Việt quốc, địa linh nhân kiệt, sơn xuyên tú mỹ, khí tượng vạn thiên.  
Từ Lý triều khai quốc, kiến đô tại Thăng Long, các đời đế vương kế thừa cơ nghiệp,  
tu thành dựng điện, uy nghi rực rỡ.

   Hoàng Thành là gốc rễ quốc gia, nơi vua ngự trị, chốn văn võ bá quan vào triều.  
Trong thành có điện Kính Thiên, cửa Đoan Môn, lầu Bắc Môn,  đều tượng trưng thiên mệnh và đạo làm vua.

   Phiến đá này ghi lại công tích tu bổ thành trì, tưởng nhớ công thần, truyền lại cho hậu thế. Rồng cuộn hổ ngồi, thế đất linh thiêng, biểu tượng quốc thái dân an, muôn đời bất diệt.

   Năm Canh Dần, tháng giữa mùa thu, ngày Quý Sửu, dựng bia tại cửa Hoàng Thành để ghi lại sự thịnh vượng ngàn thu.

Kính ghi

Phiên âm tiếng Việt hiện đại

Bia ghi chép về Hoàng Thành Thăng Long

   Nước Đại Việt ta, đất thiêng sinh người tài, núi sông tươi đẹp, khí tượng muôn vẻ. Từ thời nhà Lý dựng nước, lập đô tại Thăng Long, các đời vua nối tiếp sự nghiệp, xây thành dựng điện, uy nghi rực rỡ.

   Hoàng Thành là gốc rễ quốc gia, nơi vua ngự trị, chốn văn võ bá quan vào triều. Trong thành có điện Kính Thiên, cửa Đoan Môn, lầu Bắc Môn, đều tượng trưng cho thiên mệnh và đạo làm vua.

   Phiến đá này ghi lại công tích tu bổ thành trì, tưởng nhớ công thần, truyền lại cho đời sau. Rồng cuộn hổ ngồi, thế đất linh thiêng, biểu tượng cho quốc thái dân an, muôn đời bất diệt.

   Năm Canh Dần, tháng giữa mùa thu, ngày Quý Sửu, dựng bia tại cửa Hoàng Thành để ghi lại sự thịnh vượng ngàn thu.

Kính ghi


🔍 Ý nghĩa văn hóa và giá trị lịch sử

  • Biểu tượng quyền lực: Hoàng Thành là trung tâm chính trị của các triều đại, nơi thể hiện thiên mệnh và vương đạo.
  • Di sản kiến trúc: Các công trình như điện Kính Thiên, Đoan Môn, Bắc Môn mang dấu ấn kiến trúc cổ Việt Nam.
  • Giá trị văn bia: Văn bia là tư liệu quý giá, giúp hậu thế hiểu rõ tư tưởng, công lao và tinh thần dựng nước của cha ông.

Kết luận
   Hoàng Thành Thăng Long không chỉ là một di tích lịch sử, mà còn là biểu tượng của hồn thiêng sông núi, nơi lưu giữ những giá trị văn hóa trường tồn. Văn bia tại đây là lời nhắn gửi của quá khứ đến tương lai – về lòng trung nghĩa, trí tuệ và bản lĩnh của dân tộc Việt.

Thăm Hoàng Thành Thăng Long 

P/s: Mỗi dòng văn bia, mỗi nét thư pháp đều là nhịp thở của quá khứ vọng về hiện tại. Đừng chỉ đọc – hãy cảm nhận. Và nếu bạn thấy bài viết này hữu ích, hãy chia sẻ để nhiều người cùng lắng nghe tiếng nói của Thăng Long ngàn năm.

Cây gậy và củ cà rốt ở Eo biển Hormuz – Ván cờ dầu mỏ nóng bỏng

“The carrot and stick approach is still being used in parallel in the conflict with Iran.” Eo biển Hormuz – tuyến hàng hải vận chuyển gần 20...