Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2025

📢 Thông báo quan trọng


Kính gửi quý độc giả thân mến,

Từ ngày hôm nay, blog “Cổ & Cũ – Những Mảnh Ghép Của Ký Ức” sẽ chính thức chuyển sang địa chỉ mới:

👉 covacu2025.blogspot.com

Mọi bài viết, hình ảnh và nội dung vẫn được giữ nguyên, chỉ thay đổi đường dẫn truy cập. Nếu trước đây bạn lưu hoặc chia sẻ link kinhramcodiendep.blogspot.com, vui lòng cập nhật sang địa chỉ mới để tiếp tục theo dõi.

Xin cảm ơn sự đồng hành của các bạn trong suốt thời gian qua. Mong rằng blog ở địa chỉ mới sẽ tiếp tục là nơi lưu giữ những ký ức hoài niệm và bình dị của chúng ta.

Thân mến, Du Hà Ngọc


Một chút lưu ý:

   Nếu bạn thương những dòng chữ vừa đọc, xin hãy chậm lại đôi nhịp.

   Các bài viết trong CỔ & CŨ – Du Hà Ngọc luôn được viết để đọc bằng trái tim lắng – không vội, không gấp.

   Hãy để ký ức trong bài gõ nhẹ lên ký ức của chính bạn; hãy để tiếng xưa lọt qua kẽ thời gian mà tìm một góc an tĩnh trong ngày.

   Mỗi câu chuyện nơi đây đều có lớp kể và lớp nghĩ, có chút dí dỏm của đời thường, có chút lặng thinh của hoài niệm.

   Chỉ mong bạn đọc rồi khẽ mỉm cười – hoặc im lặng một chút cho lòng dịu lại.

Vì “cổ” là cái đã qua, còn “cũ” là cái ở lại. ✨

Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2025

Chiếc Xe Đạp Không Chuông

   Hồi ấy, trong căn nhà nhỏ nơi cuối làng, chiếc xe đạp là tài sản lớn nhất của gia đình. Bố tôi là thầy giáo trường xã, lương tháng vỏn vẹn ba mươi sáu đồng, vậy mà ông vẫn cố dành dụm suốt gần hai năm trời để mua được chiếc xe cũ giá năm trăm hai mươi đồng. Ngày ấy, ai có xe đạp là có thể "mở mày, mở mặt" với dân làng rồi. 

Xe đạp xưa - Ảnh Internet

Chiếc xe quý của bố

   Chiếc xe của bố được ông giữ gìn như báu vật. Mỗi khi đi dạy về, ông lại cẩn thận lau từng thanh sắt, tra dầu vào xích, rồi treo xe lên - hai dây có móc sắt buộc lên xà nhà cho khỏi hoen gỉ. Có hôm mưa dầm, về đến cổng, ông vẫn chưa vội vào nhà, mà khom người lau sạch từng giọt bùn bắn lên vành, bánh xe. Như thể ông đang lau đi cả nỗi nhọc nhằn của ngày dài.

   Ngày ấy, chiếc xe đạp không chỉ là phương tiện mà gần như là một phần danh dự của người đàn ông. Tôi lớn lên cùng tiếng kêu lách cách của xích, cùng ánh sáng lấp lánh trên ghi-đông mỗi sớm mai. Nhiều lần tôi đã lén trèo lên, cố với chân để chạm được bàn đạp, nhưng xe quá cao, còn tôi thì bé quá. Bố bắt gặp, chỉ cười, xoa đầu: “ Học giỏi, bố cho xe đi học". Câu nói ấy nhẹ mà thấm, như tiếng gió đi qua bên tai.

Cú té nhớ đời

   Một hôm bố đi vắng, tôi liều lĩnh dắt xe ra con dốc đầu ngõ. Chẳng cần ai chỉ bảo, tôi cứ thả cho xe trôi, đi kiểu "cẳng chó", hết dốc tôi lại dắt xe ngược đỉnh dốc và lại thả trôi. Vài lần ngã, tôi vẫn gượng dậy, vừa run vừa đau. Cho đến cái buổi định mệnh ấy — khi đang lao xuống dốc thì phía trước có người. Xe không chuông, tôi chẳng biết kêu ai. Phanh thì không kịp, chỉ nghe “rầm” một cái, tôi và xe cùng bay thẳng vào bụi cây ven đường.

   May thay, chẳng ai bị thương, chỉ mình tôi trầy đầu gối và mất mấy hôm phải nghỉ học. Bố biết chuyện, thở dài mà không mắng, chỉ lặng lẽ gắn thêm cái chuông nhỏ vào ghi-đông.

Tiếng chuông và bài học nhỏ

   Giờ nghĩ lại, cú té năm nào vẫn khiến tôi mỉm cười. Nhờ những lần ngã ấy, tôi biết đi xe đạp, và cũng biết rằng trong đời — không chỉ xe, mà con người — nếu thiếu “chiếc chuông” cảnh báo, đôi khi cũng dễ lao vào những khúc quanh bất ngờ.

Chuông xe lặng lẽ ngân vang,  

Dốc xưa khuyết bóng mây tàn trời xa.  

Ngã rồi mới biết đường qua,  

Giữ cho không ngã mới là siêu nhân.  


P/s:

   Thời đó, xe đạp cũng phải đăng ký và gắn biển số như xe máy bây giờ. Câu chuyện tôi kể xẩy ra vào khoảng năm 1965 hoặc 1966.

   Có những cú ngã khiến ta đau, nhưng cũng nhờ đó mà ta biết giữ thăng bằng. Giống như tiếng chuông nhỏ trên tay lái — đôi khi, chỉ cần nó ngân lên đúng lúc, cả một đời người đã bớt va vào những khúc quanh. 

   Bạn có câu chuyện nào tương tự không? Kể tôi nghe với!

---



Thứ Tư, 26 tháng 11, 2025

(Truyện Kiều - Phần 1). Chị em Kiều du xuân gặp mộ Đạm Tiên

Truyện Kiều - Ảnh Internet 

1. Trăm năm trong cõi người ta,

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

5. Lạ gì bỉ sắc tư phong,

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

Cảo thơm lần giở trước đèn,

Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh.

Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh,

10. Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng.

Có nhà viên ngoại họ Vương,

Gia tư nghĩ cũng thường thường bực trung.

Một trai con út rốt lòng,

Vương Quan là chữ, nối dòng nho gia.

15. Đầu lòng hai ả tố nga,

Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.

Mai cốt cách, tuyết tinh thần,

Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.

Vân xem trang trọng khác vời,

20.Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.

Hoa cười ngọc thốt đoan trang,

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.

Kiều càng sắc sảo, mặn mà,

So bề tài, sắc, lại là phần hơn.

25. Làn thu thủy, nét xuân sơn,

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.

Một, hai nghiêng nước nghiêng thành,

Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.

Thông minh vốn sẵn tính trời,

30. Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.

Cung thương làu bậc ngũ âm,

Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương.

Khúc nhà tay lựa nên chương,

Một thiên bạc mệnh, lại càng não nhân.

35. Phong lưu rất mực hồng quần,

Xuân xanh sấp xỉ tới tuần cập kê

Êm đềm trướng rủ màn che,

Tường đông ong bướm đi về mặc ai.

Ngày xuân con én đưa thoi,

40. Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.

Cỏ non xanh rợn chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

Thanh minh trong tiết tháng ba,

Lễ là tảo mộ, hội là đạp Thanh.

45. Gần xa nô nức yến anh,

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.

Dập dìu tài tử, giai nhân,

Ngựa xe như nước áo quần như nêm.

Ngổn ngang gò đống kéo lên,

50. Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.

Tà tà bóng ngả về tây,

Chị em thơ thẩn dan tay ra về.

Bước dần theo ngọn tiểu khê,

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.

55.Nao nao dòng nước uốn quanh,

Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.

Sè sè nấm đất bên đàng,

Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.

Rằng: Sao trong tiết thanh minh,

60. Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?

Vương Quan mới dẫn gần xa:

Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi.

Nổi danh tài sắc một thì,

Xôn xao ngoài cửa hiếm gì yến anh.

65. Kiếp hồng nhan có mong manh,

Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương.

Có người khách ở viễn phương,

Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi.

Thuyền tình vừa ghé tới nơi,

70. Thì đà trâm gẫy bình rơi bao giờ.

Buồng không lạnh ngắt như tờ,

Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh.

Khóc than khôn xiết sự tình,

Khéo vô duyên ấy là mình với ta.

75. Đã không duyên trước chăng mà,

Thì chi chút ước gọi là duyên sau.

Sắm xanh nếp tử xe châu,

Vùi nông một nấm mặc dầu cỏ hoa.

Trải bao thỏ lặn ác tà,

80. ấy mồ vô chủ, ai mà viếng thăm!

Lòng đâu sẵn mối thương tâm,

Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa.

Đau đớn thay phận đàn bà!

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

85. Phũ phàng chi bấy hoá công,

Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha.

Sống làm vợ khắp người ta,

Hại thay thác xuống làm ma không chồng.

Nào người phượng chạ loan chung,

90. Nào người tích lục tham hồng là ai?

Đã không kẻ đoái người hoài,

Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương.

Gọi là gặp gỡ giữa đường,

Họa là người dưới suối vàng biết cho.

95. Lầm rầm khấn khứa nhỏ to,

Sụp ngồi vài gật trước mồ bước ra.

Một vùng cỏ áy bóng tà,

Gió hiu hiu thổi một vài bông lau.

Rút trâm sẵn giắt mái đầu,

100. Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần.

Lại càng mê mẩn tâm thần

Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra.

Lại càng ủ dột nét hoa,

Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài.

105. Vân rằng: Chị cũng nực cười,

Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa.

Rằng: Hồng nhan tự thuở xưa,

Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu?

Nỗi niềm tưởng đến mà đau,

110. Thấy người nằm đó biết sau thế nào?

Quan rằng: Chị nói hay sao,

Một lời là một vận vào khó nghe.

Ở đây âm khí nặng nề,

Bóng chiều đã ngả dặm về còn xa.

115. Kiều rằng: Những đấng tài hoa,

Thác là thể phách, còn là tinh anh,

Dễ hay tình lại gặp tình,

Chờ xem ắt thấy hiển linh bây giờ.

Một lời nói chửa kịp thưa,

120.Phút đâu trận gió cuốn cờ đến ngay.

Ào ào đổ lộc rung cây,

Ở trong dường có hương bay ít nhiều.

Đè chừng ngọn gió lần theo,

Dấu giày từng bước in rêu rành rành.

125. Mắt nhìn ai nấy đều kinh,

Nàng rằng: Này thực tinh thành chẳng xa.

Hữu tình ta lại gặp ta,

Chớ nề u hiển mới là chị em.

Đã lòng hiển hiện cho xem,

Tạ lòng nàng lại nối thêm vài lời.

130.Lòng thơ lai láng bồi hồi,

Gốc cây lại vạch một bài cổ thi.

Dùng dằng nửa ở nửa về,

Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần.

135. Trông chừng thấy một văn nhân,

Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng.

Đề huề lưng túi gió trăng,

Sau chân theo một vài thằng con con.

Tuyết in sắc ngựa câu giòn,

140. Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời.

Nẻo xa mới tỏ mặt người,

Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình.

Hài văn lần bước dặm xanh,

Một vùng như thể cây quỳnh cành dao.

145. Chàng Vương quen mặt ra chào,

Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa.

Nguyên người quanh quất đâu xa,

Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh.

Nền phú hậu, bậc tài danh,

150.Văn chương nết đất, thông minh tính trời.

Phong tư tài mạo tót vời,

Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa.

Chung quanh vẫn đất nước nhà,

Với Vương Quan trước vẫn là đồng thân.

155.Vẫn nghe thơm nức hương lân,

Một nền đồng Tước khoá xuân hai Kiều.

Nước non cách mấy buồng thêu,

Những là trộm nhớ thầm yêu chốc mòng.

May thay giải cấu tương phùng,

160.Gặp tuần đố lá thoả lòng tìm hoa.

Bóng hồng nhác thấy nẻo xa,

Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai.

Người quốc sắc, kẻ thiên tài,

Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.

165. Chập chờn cơn tỉnh cơn mê.

Rốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn khôn.

Bóng tà như giục cơn buồn,

Khách đà lên ngựa, người còn nghé theo.

Dưới cầu nước chảy trong veo,

170.Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.

Kiều từ trở gót trướng hoa,

Mặt trời gác núi chiêng đà thu không.

Mảnh trăng chênh chếch dòm song,

Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân.

175.Hải đường lả ngọn đông lân,

Giọt sương gieo nặng cành xuân la đà.

Một mình lặng ngắm bóng nga,

Rộn đường gần với nỗi xa bời bời:

Người mà đến thế thì thôi,

180.Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi!

Người đâu gặp gỡ làm chi,

Trăm năm biết có duyên gì hay không?

Ngổn ngang trăm mối bên lòng,

Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình.

185.Chênh chênh bóng nguyệt xế mành,

Tựa nương bên triện một mình thiu thiu.

Thoắt đâu thấy một tiểu kiều,

Có chiều thanh vận, có chiều thanh tân.

Sương in mặt, tuyết pha thân,

190. Sen vàng lãng đãng như gần như xa.

Chào mừng đón hỏi dò la:

Đào nguyên lạc lối đâu mà đến đây?

Thưa rằng: Thanh khí xưa nay,

Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên.

195.Hàn gia ở mé tây thiên,

Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu.

Mấy lòng hạ cố đến nhau,

Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng.

Vâng trình hội chủ xem tường,

200. Mà sao trong sổ đoạn trường có tên.

Âu đành quả kiếp nhân duyên,

Cùng người một hội, một thuyền đâu xa!

Này mười bài mới mới ra,

Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời.

205. Kiều vâng lĩnh ý đề bài,

Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm.

Xem thơ nức nở khen thầm:

Giá đành tú khẩu cẩm tâm khác thường

Ví đem vào tập đoạn Trường

210. Thì treo giải nhất chi nhường cho ai.

Thềm hoa khách đã trở hài,

Nàng còn cầm lại một hai tự tình.

Gió đâu xịch bức mành mành,

Tỉnh ra mới biết rằng mình chiêm bao.

215.Trông theo nào thấy đâu nào

Hương thừa dường hãy ra vào đâu đây.

Một mình lưỡng lự canh chầy,

Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh.

Hoa trôi bèo dạt đã đành,

220. Biết duyên mình, biết phận mình thế thôi!

Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi,

Nghĩ đòi cơn lại sụt sùi đòi cơn.

Giọng Kiều rền rĩ trướng loan,

Nhà Huyên chợt tỉnh hỏi: Cơn cớ gì?

225.Cớ sao trằn trọc canh khuya,

Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa?

Thưa rằng: Chút phận ngây thơ,

Dưỡng sinh đôi nợ tóc tơ chưa đền.

Buổi ngày chơi mả đạm Tiên,

230. Nhắp đi thoắt thấy ứng liền chiêm bao.

Đoạn trường là số thế nào,

Bài ra thế ấy, vịnh vào thế kia.

Cứ trong mộng triệu mà suy,

Phận con thôi có ra gì mai sau!

235. Dạy rằng: Mộng triệu cớ đâu,

Bỗng không mua não chuốc sầu nghĩ nao.

Vâng lời khuyên giải thấp cao,

Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch Tương.

Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng,

240. Nách tường bông liễu bay ngang trước mành.

Hiên tà gác bóng chênh chênh,

Nỗi riêng, riêng trạnh tấc riêng một mình.

Cho hay là thói hữu tình,

Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong.

(Còn nữa)

...

P/s: 
Đọc Truyện Kiều không chỉ là đọc thơ lục bát, mà là một hành trình thưởng thức văn chương, cảm thụ nghệ thuật và suy ngẫm về thân phận con người.
Cổ và Cũ  - Du Hà Ngọc. 


Thứ Ba, 25 tháng 11, 2025

Nhìn lại những trận lụt lớn ở Miền Trung trong quá khứ - Bài học cho hôm nay

   Nhân trận lũ lụt lớn, gây thiệt hại nhiều người và tài sản của người dân Nam Trung Bộ những ngày cuối tháng 11 năm 2025 -  Nhìn lại những trận lũ lụt lịch sử ở Miền Trung. 

   Miền Trung Việt Nam từng hứng chịu nhiều trận lũ lụt lịch sử (1964, 1999, 2020) gây hậu quả nghiêm trọng. Bài viết phân tích nguyên nhân, bài học rút ra và kinh nghiệm quốc tế có thể áp dụng để giảm thiểu thiệt hại. 

Lũ lụt Miền Trung - Ảnh Internet 

1. Giới thiệu

   Miền Trung Việt Nam có địa hình hẹp, sông ngắn và dốc, thường xuyên chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão và áp thấp nhiệt đới. Chính vì vậy, nơi đây trở thành “rốn lũ” của cả nước, với nhiều trận lũ lụt lịch sử để lại hậu quả nặng nề.  

2. Các trận lũ lụt lịch sử miền Trung

Lũ năm 1964

- Được gọi là “Đại họa năm Thìn”.  

- Hàng nghìn người chết, nhiều làng mạc bị xóa sổ.  

- Nguyên nhân: mưa lớn kéo dài, sông ngắn và dốc, nước lũ dâng nhanh.  

Lũ năm 1999

- Tập trung ở Thừa Thiên Huế, gây thiệt hại khủng khiếp.  

- Hàng trăm người chết và mất tích, hơn 1 triệu ngôi nhà bị ngập.  

- Thiệt hại kinh tế hàng nghìn tỷ đồng.  

Lũ năm 2020

- Chuỗi thiên tai liên tiếp do nhiều cơn bão (số 6, 7, 9).  

- Hàng trăm người chết và mất tích.  

- Thiệt hại kinh tế hàng chục nghìn tỷ đồng, kèm theo sạt lở đất nghiêm trọng.  

3. Bài học rút ra

- Cảnh báo sớm và sơ tán kịp thời: Giảm thương vong.  

- Quy hoạch đô thị thích ứng lũ: Hạ tầng thoát nước, nhà cửa chống ngập.  

- Phục hồi rừng đầu nguồn: Tăng khả năng giữ nước, giảm tốc độ dòng chảy.  

- Ứng phó đa thiên tai: Kết hợp chống lũ, chống sạt lở, bảo vệ dân cư miền núi.  

- Nâng cao nhận thức cộng đồng: Tập huấn kỹ năng phòng tránh thiên tai.  

4. Kinh nghiệm quốc tế có thể áp dụng

🇳🇱 Hà Lan – Sống chung với nước

- Hệ thống “Delta Works” với đê biển, cống ngăn triều.  

- Bài học: Quy hoạch đô thị thích ứng, không chỉ chống lũ mà còn tận dụng nguồn nước.  

🇯🇵 Nhật Bản – Cảnh báo sớm và giáo dục cộng đồng

- Hệ thống cảnh báo qua điện thoại, truyền hình, loa công cộng.  

- Người dân được tập huấn định kỳ.  

🇺🇸 Hoa Kỳ – Công nghệ và bảo hiểm thiên tai

- Ứng dụng AI, dữ liệu lớn để dự báo.  

- Hệ thống bảo hiểm hỗ trợ khắc phục hậu quả.  

🇩🇰 Đan Mạch – Đô thị xanh

- Thiết kế công viên, hồ điều hòa, đường thoát nước tự nhiên.  

- Bài học: Hạ tầng xanh giúp giảm ngập úng và tạo không gian sống bền vững.  

5. Kết luận

   Các trận lũ lụt lịch sử miền Trung là lời cảnh tỉnh về sự dễ tổn thương của khu vực trước biến đổi khí hậu. Việt Nam cần kết hợp giải pháp trong nước với kinh nghiệm quốc tế để xây dựng chiến lược phòng chống thiên tai bền vững, bảo vệ cộng đồng và phát triển kinh tế xanh.  

...

Phụ lục thêm 

   Xu hướng biến đổi khí hậu và nguy cơ lũ lụt miền Trung trong 30 năm tới

1. Xu hướng khí hậu toàn cầu

- Nhiệt độ trung bình tăng: Dự báo đến năm 2050, nhiệt độ toàn cầu có thể tăng thêm 1,5–2°C.  

- Mưa cực đoan gia tăng: Tần suất và cường độ mưa lớn sẽ cao hơn, đặc biệt ở khu vực nhiệt đới như Việt Nam.  

- Mực nước biển dâng: Theo IPCC, mực nước biển có thể tăng từ 0,3–0,6m vào cuối thế kỷ XXI, làm gia tăng nguy cơ ngập lụt ven biển.  

2. Tác động đến miền Trung Việt Nam

- Gia tăng bão mạnh: Biển Đông sẽ xuất hiện nhiều cơn bão có cường độ cao hơn, gây mưa lớn và lũ quét.  

- Ngập lụt đô thị: Các thành phố ven biển như Huế, Đà Nẵng, Hội An sẽ đối mặt với tình trạng ngập sâu thường xuyên.  

- Sạt lở đất miền núi: Mưa cực đoan kết hợp với mất rừng đầu nguồn sẽ làm tăng nguy cơ sạt lở nghiêm trọng.  

- Thiệt hại kinh tế – xã hội: Nông nghiệp, du lịch và hạ tầng giao thông sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề, có thể làm giảm tăng trưởng GDP khu vực.  

3. Giải pháp dài hạn

- Quy hoạch đô thị thích ứng khí hậu: Xây dựng hạ tầng thoát nước, nhà chống lũ, khu tái định cư an toàn.  

- Phục hồi rừng và hệ sinh thái ven biển: Tăng khả năng giữ nước, giảm tốc độ dòng chảy, bảo vệ bờ biển.  

- Ứng dụng công nghệ dự báo hiện đại: AI, dữ liệu lớn, hệ thống cảnh báo sớm đa kênh.  

- Hợp tác quốc tế: Học hỏi mô hình quản lý nước của Hà Lan, cảnh báo sớm của Nhật Bản, đô thị xanh của Đan Mạch.  

- Chiến lược phát triển bền vững: Kết hợp kinh tế xanh, năng lượng tái tạo và bảo hiểm thiên tai để giảm thiểu rủi ro.  

Ghi chú:

   - Tài liệu tham khảo: Wikipedia 

   - IPCC là Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu, cơ quan khoa học quốc tế của Liên Hợp Quốc chuyên đánh giá rủi ro và tác động của biến đổi khí hậu do con người gây ra.  

---

Thứ Hai, 24 tháng 11, 2025

KÝ ỨC VỊ XUYÊN 1984 – NHỮNG NGƯỜI LÍNH LUỒN SÂU NƠI CỘT MỐC BIÊN CƯƠNG

(Phiên bản phong cách CỔ & CŨ – Du Hà Ngọc)

“Bài viết được biên tập lại từ ký ức và thông tin do các cựu chiến binh Lữ đoàn 543 chia sẻ. Xin trân trọng cảm ơn các anh Đinh Hồng Pha, Nguyễn Huy Bồng, Lê Văn Toàn, Lê Văn Vinh, Trần Quang Vũ đã cung cấp tư liệu quý giá.”  

I. SƯƠNG CŨ TRÊN VÙNG BIÊN ẢI

   Có những chiều cuối năm, gió bỗng thoảng qua như mang theo tiếng vọng của núi rừng năm xưa. Vị Xuyên 1984 – cái tên nghe lên đã thấy một màu đất đỏ pha lẫn khói súng, nơi những người lính trẻ của Lữ đoàn công binh 543 gửi lại tuổi hai mươi giữa rừng đá sắc lạnh. Bốn mươi năm trôi qua, ký ức vẫn còn nguyên như chiếc bi đông cũ: trầy xước đấy, nhưng chỉ cần chạm vào là biết nó đã từng đi qua những nơi rất khắc nghiệt.

Một số ít chiến sĩ luồn sâu đánh địch trong buổi gặp mặt- Ảnh Đinh Hồng Pha 

II. CHUYỆN CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC GỌI BẰNG TÊN

1. Nhiệm vụ của Tiểu đoàn 45 – Người đứng mũi chịu sào

   Năm 1984, giữa lúc mặt trận Vị Xuyên nóng như lửa đổ. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 45, Nguyễn Bá Tập, được giao nhiệm vụ lên nằm ở Tả Ván-Tùng Vài, khu vực cột mốc 14-14,5 mà chỉ nghe đã thấy nặng như đá núi: cùng C trưởng C10 Nguyễn Văn Cần chỉ huy bộ đội luồn sâu sang bên kia biên giới đánh địch.

   Không ồn ào, không trống giong, chỉ có những ánh mắt nhìn nhau trong đêm, hiểu rằng phía trước là ranh giới mỏng manh giữa trở về và nằm lại.

2. Người dẫn quân trong đêm – Đại đội trưởng C10 và trung đội trưởng trẻ

   Đêm hành quân, bóng người nối nhau như một dòng chảy âm thầm. Đội hình ấy chịu sự chỉ huy trực tiếp của Đại đội trưởng C10 – Nguyễn Văn Cần.

   Đồi núi Vị Xuyên không bao giờ dễ dãi: đá lởm chởm như răng cưa, khe suối lạnh cắt tay, và trên đầu luôn là ánh pháo sáng quét qua như con mắt của kẻ thù.

   Trong đội hình luồn sâu, người đi trước mở đường chính là Thiếu úy Trương Đức Sông – Trung đội trưởng thuộc C10. Trẻ, nhanh, tỉnh táo và đầy trách nhiệm. Anh mang theo thiết bị ĐK1 – kết quả nghiên cứu của Viện Kỹ thuật Quân sự, một thứ vũ khí mới mà người lính công binh coi như “con dao nhỏ sắc nhất” để mở đường vào trung tâm phòng ngự của địch.

3. Kíp chiến đấu và tiếng nổ thay lời

   Khi vào đến vị trí, đội hình của Trương Đức Sông giữ im lặng như thể cả rừng đã nín thở theo. Chỉ một thao tác dứt khoát, khối thuốc nổ được ĐK1 kích hoạt.

   Tiếng nổ gọn và sắc – đủ để xoá sổ một tiểu đội địch, làm rung chuyển cả tuyến phòng ngự trước mặt.

   Trong khoảnh khắc ấy, người lính hiểu rằng sự sống của anh em phía sau mình được giữ bằng cả mưu trí và sự quyết đoán của những người đi đầu.

III. CUỘC GẶP GỠ SAU BỐN MƯƠI NĂM

   Bốn mươi năm – tóc xanh thành tóc bạc. Trong buổi gặp mặt thường niên của các cựu chiến binh Lữ đoàn 543 tại Vĩnh Phúc hôm nay, những người lính năm ấy lại nhìn nhau qua những nếp nhăn, nghe tiếng cười cũ trở về như tiếng bi-đông va nhẹ vào súng trong đêm hành quân.

   Nhưng trong bức ảnh chung còn thiếu một người – Thiếu úy Trương Đức Sông.

   Anh không đứng trong khung hình, nhưng đứng trong từng câu chuyện mà đồng đội vẫn kể bằng giọng khẽ run. Có những người, dù không còn hiện diện bằng thân xác, vẫn ở lại bằng chính chiến công và nhân cách của mình.

   Ký ức Vị Xuyên vì thế không bao giờ khép lại. Nó ở ngay trong ánh mắt những người đang đứng đây – những người vẫn gọi nhau bằng tên, như thuở còn mang dép lốp đi vào đêm lửa đạn.

Đêm đá lạnh bước chân người mở lối,

Một tiếng nổ làm nghiêng cả biên cương.

Bốn chục năm – đồng đội còn thương nhớ,

Tên một người sáng mãi giữa chiến trường.


P/s:

   Thời gian có thể làm mờ mọi thứ, trừ những cái tên đã từng được gọi trong lúc hiểm nguy nhất. Những cái tên ấy – khi nhắc lại – bỗng nghe như tiếng gọi từ rừng xưa, trầm mà ấm, rất đỗi thân quen.

   Theo anh Nguyễn Huy Bồng: ĐK1 là thiết bị điều khiển nổ từ xa của viện kỹ thuật quân sự.

   Nhóm luồn sâu còn có một đồng chí thông tin tên là Quân người dân tộc Tày thuộc c15 của lữ đoàn 543. Quân Tày, sau lấy em Mão, nhà ở Minh Bảo. Quân Tày mất rồi. (Theo Trần Quang Vũ và Đinh Hồng Pha).

   Bức hình trên chỉ một số ít trong đội hình luồn sâu đánh địch. Còn nhiều người nữa chưa có dịp gặp lại. 

---



Chủ Nhật, 23 tháng 11, 2025

Bánh Tu Hú – Món Bánh Chống Đói Gắn Liền Với Tuổi Thơ

   Có những buổi trưa làng quê xưa nghèo đến mức nghe tiếng chim cu gáy cũng hóa thành dư vị của ký ức. Trong những năm tháng ấy, nhà tôi có một món bánh bình dân đến mức chẳng ai nghĩ sau này nhớ: bánh tu hú. Cái tên lạ lùng ấy chẳng biết sinh ra từ đâu — chỉ biết mỗi lần mẹ gọi “Lúc nào đói thì làm mẻ bánh tu hú mà ăn”, là lũ trẻ chúng tôi thấy cả một góc trời tuổi nhỏ ùa về.

Sắn lát phơi khô - Ảnh Internet 

🌾 Nguyên liệu bình dị

   Những thứ để làm bánh đều từ đất mà ra, chẳng có gì cầu kỳ:

   Mấy bao sắn lát phơi khô, để dành từ vụ trước, trắng phau mà thơm nắng.

   Bỏ vào cối đá giã, rồi giần cho mịn, thứ bột sắn ấy nhẹ như bụi thời gian.

   Ngào với chút nước, nắn nắn cho đến khi thành được một khối dẻo vừa đủ.

   Thứ làm nên linh hồn món bánh lại là mật mía. Không phải thứ ngọt gắt của đường tinh luyện bây giờ, mà là vị ngọt chậm rãi, hiền như giọng người quê.

👆 Cách tạo hình độc đáo

   Chả cần khuôn khổ, cân đong hay công thức. Cả gian bếp nghèo chỉ trông vào… ngón tay cái.

   Vê bột thành viên nhỏ.

   Đặt lên ngón cái làm trụ (khuôn bánh).

   Dàn bột quanh ngón tay, xoay nhẹ một vòng.

   Rút ngón tay ra — thế là có ngay chiếc bánh tu hú trắng ngần, nhỏ xíu, dễ thương như chính thời một lũ trẻ còn chưa biết lo nghĩ.

   Bánh được xếp vào chõ để đồ. Khi chín, màu nó chuyển sang xám đen — cái màu của những ngày gian khó, của bếp củi nhem nhuốc, nhưng lại thơm và ấm đến lạ. Để nguội rồi chấm mật mía, vị ngọt thấm qua đầu lưỡi, quyện với cái bùi dẻo của sắn, thành ra thứ “ngon” mà chẳng cửa hàng nào bán.

Kết

   Bây giờ đi siêu thị, bánh trái ê hề, nhưng đôi lúc tôi vẫn thèm cái dáng bánh thô mộc được in khuôn từ một ngón tay tuổi nhỏ. Thèm cả cái cảm giác vừa ăn vừa nghe tiếng gió thổi qua luỹ tre, thèm cái ấm áp của những ngày nghèo nhưng lòng người lại đầy ắp.

   Có lẽ, mỗi chúng ta đều giữ một chiếc bánh tu hú cho riêng mình — bé nhỏ, mộc mạc, nhưng cắn vào là thấy cả một miền ký ức lặng lẽ hiện ra.

Ngón tay nhỏ nắn nên mùa sắn cũ,  

Mật mía vàng chan nhớ những ngày xưa.  

Bánh tu hú mềm như câu chuyện cũ,  

Cắn một miếng… nghe lòng chạm gió trưa.

Sắn tươi luộc 

P/s

   Viết cho văn vẻ thế thôi! Chẳng mấy khi có mật để chấm.😀

   Không biết ở quê - có ai còn làm món bánh này không nhỉ?

Thứ Bảy, 22 tháng 11, 2025

Chiếc UAZ giữa chiều rừng điểm cao 812

Bài viết theo phong cách CỔ & CŨ – Du Hà Ngọc

   Một kỷ niệm lạ lùng giữa núi rừng điểm cao 812: cuộc gặp không lời với một đại úy và chiếc UAZ chở mấy ông cố vấn Liên Xô, để lại dư âm khó tả giữa buổi chiều rừng im ắng.

Xe UAZ - Ảnh Internet 

Không gian rừng núi, bước chân người lính, sự tĩnh lặng của điểm cao 812.

   Có những buổi chiều rừng lặng đến mức người ta nghe rõ cả tiếng chiếc lá đổi ý rơi xuống. Hôm ấy, sau khi kiểm tra xong con đường từ Thác Âm Phủ lên sư đoàn tiền phương 313 trên điểm cao 812, tôi một mình thả bước, lững thững trở về hầm như mọi khi.

Trang phục, cây gậy chống quen thuộc

   Bộ quân phục sĩ quan khoác trên người còn vương lớp bụi đỏ của cả ngày đi tuyến. Cây gậy chống – người bạn trung thành theo tôi từ những lối mòn đầu tiên – gõ từng tiếng “cốc… cốc…” lên mặt đường, nghe như nhịp tim của rừng. Tôi vừa đi vừa nghĩ đến bao việc của đơn vị; trong đầu khi ấy, lo toan còn đặc hơn cả sương hoàng hôn.

Chiếc UAZ xuất hiện

   Rồi bất ngờ, ở khúc cua tay áo, một chiếc UAZ hiện ra và chậm lại. Cửa xe bật mở, một viên đại úy đeo súng lục bên sườn bước xuống, đi thẳng về phía tôi. Đến gần, anh ta bỗng… đi giật lùi. Tôi tiến một bước, anh ta lùi một bước. Cứ thế, giữa rừng núi êm như nín thở, hai con người đối diện nhau mà không ai nói gì. Chỉ có gió thổi, như muốn nói hộ những câu chưa kịp thành lời.

   Khi ngang qua mũi xe, tôi liếc vào trong. Vài khuôn mặt Tây đang nhìn ra, mắt sáng lên trong khoang tối. Tôi đoán đó là mấy ông cố vấn Liên Xô – những nhân vật vừa gần vừa xa, vừa thực vừa như bước ra từ trang báo tường của thời chiến.

Chiếc xe rời đi

   Đi thêm mấy bước, tôi vượt qua đuôi xe. Lúc ấy, viên đại úy dừng lại, quay người lên xe, đóng cửa và biến mất như thể chưa từng bước xuống. Chiếc UAZ nổ máy “ìn ìn”, rồi chậm rãi bò ngược dốc, dáng vẻ như một con thú sắt biết giữ cho riêng mình những câu chuyện không bao giờ kể.

Sự yên tĩnh trở lại

   Còn tôi, tôi lại tiếp tục hành trình về lán hầm. Tiếng gậy chạm đất dẫn đường, rừng chiều trở về nhịp cũ – như thể cuộc gặp gỡ lạ lùng vừa rồi chỉ là một chớp mắt trong đời người lính núi: gian truân, hiền hậu và đầy những điều khó gọi tên.

Chiều núi lặng nghe chân người gõ đá,

Một bóng xe qua để lại chút mơ hồ.

Chuyện cũ thoảng như làn mây trong dã sử,

Nhắc ta rằng đời lính… lạ lắm mà thương ghê.


P/s

   Những chuyện gặp gỡ kỳ lạ của thời chiến đôi khi chỉ thoáng qua như bóng cây trong chiều rừng, nhưng lại ở mãi trong trí nhớ – đủ để sau này khi tóc bạc, ta mỉm cười mà nhớ lại: “À, có lần mình đã đi qua một điều như thế.”

   Nếu bạn là tôi lúc ấy - Bạn xử lý thế nào?

---


Thứ Sáu, 21 tháng 11, 2025

Đạm Tiên Trong Truyện Kiều

   Bài viết theo phong cách CỔ & CŨ – Du Hà Ngọc

   Đạm Tiên trong Truyện Kiều của Nguyễn Du: biểu tượng hồng nhan bạc mệnh, người báo trước hành trình đoạn trường của Thuý Kiều và nỗi đau phận nữ trong xã hội phong kiến.

Đạm Tiên - Ảnh tưởng tượng có hỗ trợ của công nghệ📷

Đạm Tiên trong Truyện Kiều – Bóng hồng bạc mệnh dưới mưa thời gian

   Có những buổi chiều dừng bước bên nghĩa địa xưa, ta thấy cỏ không mọc thành hàng và gió chẳng thèm theo một lối. Thỉnh thoảng, một nấm mộ hoang vô danh như lời nhắc khẽ rằng từng có người đã yêu, đã sống, đã tài sắc nhưng rồi lặng lẽ rời cõi đời, chẳng ai nhớ nổi. Đạm Tiên của Nguyễn Du là một thân phận như thế. Một cái tên đẹp đến nao lòng mà cuộc đời lại mỏng như tơ sớm.

1. Nhan sắc một thời và cái chết mỏng manh

   Người con gái ấy từng “nổi danh tài sắc một thời”, kẻ thưởng hoa nối gót, người say nguyệt đắm lời. Vậy mà nhan sắc không chống nổi vô thường, phận đời không chống nổi bất công. Nàng chết trẻ, không nơi nương tựa, nằm lại trong nấm mồ cỏ mọc ngập ngụa. Câu chuyện về nàng không chỉ để thương mà còn để sợ: sợ cho kiếp hồng nhan vốn đã định đoạn trường.

"Sống làm vợ khắp người ta, 

Hại thay thác xuống làm ma không chồng.".

   Ngày Kiều ghé qua, tình cờ mà như định mệnh. Cô gái chưa từng trải gió bão đời người ấy đứng lặng trước mộ Đạm Tiên, lòng xót xa cho người khuất mà chẳng hay đang gieo hạt thương vào chính số phận mình.

2. Lời báo mộng và dấu chỉ định mệnh

   Rồi hồn Đạm Tiên trở lại. Không ma mị rùng rợn. Chỉ nhẹ như tiếng lá khô va vào nhau lúc nửa đêm. Lời báo mộng như dòng chữ đã viết sẵn:

• Tài sắc mà long đong

• Hiếu nghĩa mà gian truân

• Yêu sâu mà thương tận

   Đạm Tiên không cứu nổi chính mình nhưng lại như người chị đi trước quay lại, khẽ chạm vai Kiều mà nhắn gửi: chuẩn bị đi qua bão giông dài lắm.

3. Tiếng nói nhân đạo gửi từ cõi xa

   Nguyễn Du gửi vào Đạm Tiên nỗi thương đời đằm thắm: phụ nữ tài sắc, dù nổi danh một thời, cũng như cánh hoa rơi bên lối cũ. Sống thì bị mua vui, chết rồi chỉ còn gió lật cỏ hoang. Cái chết của Đạm Tiên là vết dao khắc lên xã hội phong kiến vùi dập phụ nữ không thương tiếc.

Kết

   Đạm Tiên chỉ xuất hiện trong vài đoạn thơ nhưng neo cả nỗi buồn Truyện Kiều vào lòng độc giả. Một bóng hồng dẫn chuyện, dự báo, nâng bước Kiều vào hành trình nước mắt. Đọc nàng để thương Kiều. Thương Kiều lại càng thương nàng.

   Có lẽ Đạm Tiên là giọt sương đọng trên câu chuyện Kiều: nhỏ bé mà soi thấy cả bầu trời khắc nghiệt. Đời người mong manh vậy thôi, như một tiếng thở dài giữa hai kiếp người đi lạc.

🌱 3 bài thơ về Đạm Tiên

1.

Mộ giữa cỏ hoang

Chỉ còn gió nhớ tên

Hoa rơi khép mắt

2.

Bóng trăng lạc bước

Hồn gửi lại nhân gian

Một câu đoạn trường

3.

Dải lụa tài hoa

Gãy ngang cung đàn cũ

Khói chiều lãng quên


P/s: Đẹp là thế, tài là thế, nhưng phận mỏng. Kể cũng thương cho nàng lắm lắm. 

...




Thứ Tư, 19 tháng 11, 2025

Uống nước nhớ nguồn – Chuyến trở về sau bốn mươi năm

   Hành trình tri ân thầy cô và gặp lại bạn bè sau bốn mươi năm ra trường của cựu sinh viên Giao thông Vận tải – chuyến đi giàu cảm xúc, đậm nghĩa tình và những ký ức không cũ.

Thầy trò tại trường 

 Một chuyến đi hơn một năm nhưng còn mãi trong lòng

   Đã hơn một năm trôi qua, vậy mà mỗi khi nghĩ về chuyến trở về sau bốn mươi năm ra trường, lòng tôi lại dậy lên một thứ ấm áp rất lạ – giống như mở chiếc hộp gỗ cũ ra và bất ngờ thấy trong đó chút nắng thu năm nào còn sót lại.

 Từ mái trường cũ, gặp lại thầy xưa

   Sau khi tri ân các thầy cô. Chúng tôi khởi hành từ mái trường Giao thông Vận tải, nơi đã đi qua tuổi trẻ của mỗi người. Lần này đặc biệt hơn vì có thầy cùng đi.

   Tóc thầy bạc nhiều rồi, bước thầy chậm hơn xưa, nhưng nụ cười hiền thì vẫn vậy – nhẹ như phấn bảng ngày nào. Chỉ cần nhìn thầy thôi, bao nhiêu năm tháng xa nhau đều tan rã như sương sớm.

 Nà Tu-Cẩm Giàng và đêm miền núi ấm tình bạn ở Bắc Kạn 

   Đoàn ngược lên Bắc Kạn theo lời mời của anh Lý Thái Hải và các bạn ở Bắc Kạn.

   Dọc đường, chúng tôi dừng chân thắp hương tại Khu di tích Nà Tu – Cẩm Giàng, nơi dòng lịch sử như vẫn còn lặng lẽ chảy qua từng phiến đá. Khói hương cuộn lên mỏng tang, mà lại nặng tình, như một lời nhắc mỗi người rằng: biết ơn là gốc của nghĩa.

Nà Tu-Suối Giàng 

   Đêm trong núi rừng Bắc Kạn, gió thì lạnh mà lòng lại ấm. Bạn bè gặp lại sau bốn thập kỷ, chuyện cũ được mang ra hong lại, thơm thơm mùi thời gian.

 Lên Cao Bằng theo lời mời của anh Đàm Viết Hà và các bạn ở Cao Bằng 

   Sáng hôm sau, chúng tôi tiếp tục hành trình tới Cao Bằng theo lời mời của anh Đàm Viết Hà và các bạn Cao Bằng. 

   Đường núi uốn mình mềm mại như dải lụa cũ, còn đoàn chúng tôi thì rộn ràng như ngày còn sinh viên, háo hức với mỗi khúc cua, mỗi triền đèo mở ra trước mắt.

 Pác Bó – Dòng nước xanh soi bóng thời gian

   Cao Bằng đón chúng tôi bằng tiếng suối Lê-nin róc rách và làn nước xanh đến lạ.

   Đứng trước hang Cốc Bó – nơi Bác Hồ từng sống và làm việc – ai cũng im lặng một thoáng. Dường như trong khung cảnh tĩnh lặng ấy, mỗi người đều tìm thấy một góc soi riêng cho mình.

   Ở đây, chúng tôi thăm và dâng hương Đền thờ Bác Hồ. 

Thầy trò tại Cao Bằng 

 Ngày trở lại Hà Nội và món quà mang hộ ký ức

   Ngày trở về, trên xe ai cũng có một túi quà từ bạn bè miền núi. Nhưng đặc biệt nhất vẫn là chai rượu vảy vàng – thứ rượu vừa đẹp mắt vừa chứa đựng nghĩa tình.

   Một năm trôi qua rồi, mỗi lần mở tủ nhìn lại, tôi vẫn thấy ánh vàng ấy lấp lánh như nhắc về một chuyến đi đầy ân tình.

Chai rượu vảy vàng Bắc Kạn 

 Lời kết – Ánh vàng cuối chén

   Chuyến đi không chỉ để gặp nhau sau 40 năm, cũng không chỉ để tri ân thầy cô.

   Nó là lời nhắc dịu dàng rằng: còn nhớ nguồn là còn giữ được sự tử tế của chính mình trong những năm tháng đã trôi.

   Và ký ức – như chút ánh vàng dưới đáy chén – chỉ cần khẽ xoay là sáng lên, mềm mại, bền bỉ, và chẳng bao giờ phai.

Giao thông Vận tải – nguồn xưa ấy,

Bốn chục năm rồi vẫn ngát hương.

Nà Tu khói tỏa ru miền nhớ,

Pác Bó xanh trong giữ cội nguồn.


P/S:

   Xin giữ bài viết này như một tấm ảnh cũ ép giữa trang sổ tay – để khi mở ra, vẫn còn nghe mùi gió Bắc Kạn, tiếng suối Pác Bó và cả dư âm của những nụ cười năm ấy.

---


Thứ Ba, 18 tháng 11, 2025

Bà giáo - Bóng hình năm tháng

Blogger – phong cách CỔ & CŨ – Du Hà Ngọc

   Có những buổi chiều lặng gió, ngồi bên hiên nhà nhìn bóng nắng đổ dài, tôi lại thấy tuổi trẻ khẽ quay về. Mùi hoa sữa thoảng qua như một lời gọi, kéo theo cả một thời áo trắng trong trẻo. Ngày ấy, lũ học trò chúng tôi đạp những chiếc xe cà tàng trên con đường làng ngập nắng, còn tiếng cười thì giòn tan như muốn vỡ cả khoảng trời tuổi trẻ.

Nụ cười bà giáo 

   Giữa bức tranh ấy, có một bóng hình mà đến bây giờ tôi vẫn giữ mãi trong tim – bà giáo, người bạn học năm xưa.

   Hôm nay bà đã bước sang tuổi bảy mươi. Trải qua dao kéo, hóa trị, xạ trị… bao thử thách của đời người. Thế mà nhìn bà, người ta vẫn thấy nét thanh xuân cũ còn vương lại: đôi mắt sáng, nụ cười hiền, dáng vẻ nhẹ nhàng như thể thời gian chỉ ghé ngang chứ không nỡ hằn dấu.

   Thuở học trò, bà thuộc “giới thượng lưu” trong mắt tụi chúng tôi. Khi chúng tôi còn lom khom trên chiếc xe đạp cọc cạch, bà đã có chiếc Diamond xanh cánh chả bóng loáng dưới nắng chiều. Xe đẹp, người đẹp, lại học giỏi – bà nổi bật như một nét son trong bức tranh học trò còn lem mực. Bao ánh mắt từng dõi theo, bao trái tim từng thầm gửi mà chẳng dám nói. Tuổi trẻ mà, ngăn tim nhỏ xíu nhưng giấu được những điều dài bằng cả một đời.

   Rồi ai cũng lớn lên, rồi mỗi người mỗi ngả. Kẻ học cao, người vào lính, người lập nghiệp nơi quê nhà. Bà chọn nghiệp sư phạm, lặng lẽ gieo chữ cho đời.

   Ông – người bạn đời của bà – cũng là thầy giáo. Hai ông bà cùng mang con chữ đi dọc khắp mọi miền, dựng nên những mùa vàng tri thức cho bao thế hệ học trò. Hôm nay nhìn lại, chắc hẳn nhiều học trò của ông bà đã trưởng thành, giữ những vị trí quan trọng trong xã hội.

   Giờ tuổi cao bệnh tật đeo mang, như bóng chiều phủ lên triền núi. Nhưng trong ký ức tôi, bà vẫn mãi là bóng hình thanh xuân – dịu dàng, trong trẻo và khó phai.

   Cuộc đời con người, nghĩ cho cùng, cũng như một dòng sông: có đoạn trong veo, có đoạn gập ghềnh, nhưng tất cả đều xuôi về biển lớn. Tuổi trẻ rồi cũng qua, chỉ còn lại những dấu ấn đọng trong lòng nhau.

   Bà giáo – bóng hình của năm tháng – là minh chứng cho một đời sống ý nghĩa: từ cô học trò rực rỡ thuở nào đến người thầy tận tụy gieo niềm tin và nhân cách.

   Nghề giáo đâu chỉ truyền kiến thức. Đó là gieo hy vọng, gieo lòng tử tế, gieo những hạt mầm hóa thành rừng xanh cho đời. Bởi vậy, người thầy – người cô – chẳng bao giờ già đi trong ký ức học trò. Họ chỉ đứng đó, lặng lẽ mà ấm áp, như ngọn đèn khuya âm thầm cháy.

   "Có những bóng hình của tuổi trẻ, thời gian không thể xoá. Bà giáo năm xưa – vẫn nguyên vẹn trong trái tim người đã lớn."

   Nhân ngày 20 tháng 11, xin cúi đầu tri ân. Xin gửi đến các bà giáo và các ông giáo mà tôi biết lời chúc an nhiên, mạnh khỏe, hạnh phúc. Bởi trong lòng những học trò năm xưa, các ông bà vẫn nguyên vẹn như thuở ban đầu.

Nghiêng chiều rụng xuống phấn bay,

Gót ai thuở trước còn lay trong hồn.

Dẫu cho tóc bạc hao mòn,

Bóng thầy, bóng bạn vẫn còn như xưa.


P/S: Có những người đi qua đời ta rất khẽ… nhưng để lại một khoảng sáng không bao giờ tắt. Bà giáo năm xưa – một phần trong tuổi trẻ tôi, vẫn nằm đó, yên ả mà sâu.

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2025

Bát chè dọc mùng và những mùa hè đã qua

   Một hồi ức dịu dàng về khu tập thể người Việt nơi xứ người, về bà Ken — người Đức hiền hậu, và bát chè dọc mùng lạ lẫm mà thấm đẫm tình thân.

Dọc mùng - Ảnh Internet 

🌿Thuở còn sống nơi xứ người

   Hồi ấy, trong khu tập thể (Wohnheim) người Việt nơi xứ người, chỉ có một gia đình người Đức — chủ nhà là bà Ken. Giữa những mái đầu đen và tiếng Việt rộn ràng, bà Ken như một nốt trầm dịu dàng, lặng lẽ mà thân thiện. Con gái bà lấy chồng người Việt, nên bà lại càng quý mến chúng tôi hơn. Mỗi lần gặp, bà đều mỉm cười, ánh mắt hiền hậu như nắng đầu hè.

🍵 Chè dọc mùng — món quà của tình thân:

   Một buổi trưa mùa hè, trời trong veo như tấm kính vừa lau, bà Ken gõ cửa phòng tôi. Trên tay bà là một bát chè — màu sắc nhã nhặn, mùi thơm lạ lẫm. Bà nói bằng tiếng Đức lẫn chút tiếng Việt: “Em ăn thử!” rồi quay về nhà.

   Tôi cầm thìa, xúc một miếng. Vị ngọt thanh, mát lành, dọc mùng mềm mà không nhũn, lạ lẫm mà dễ chịu. Ở Việt Nam, tôi chưa từng thấy ai nấu chè bằng dọc mùng. Vậy mà nơi đất khách, món ăn ấy lại khiến tôi nhớ quê đến nao lòng.

🕰️ 35 năm — ký ức chưa phai:

   Đã 35 năm trôi qua. Tôi vẫn nhớ như in bát chè hôm ấy. Nhớ bà Ken, nhớ khu Wohnheim, nhớ những người Đức tôi từng quen, từng làm việc cùng. Nhớ cả tiếng gõ cửa nhẹ nhàng, ánh mắt trìu mến, và cái cảm giác được sẻ chia giữa những khác biệt ngôn ngữ.

   Biết bao giờ tôi mới gặp lại họ? Biết bao giờ mới lại được ăn một bát chè dọc mùng giữa mùa hè nơi xứ người?

🌸 Kết:

   Có những ký ức không cần rực rỡ, chỉ cần dịu dàng. Có những con người không cần thân thiết, chỉ cần chân thành. Và có những món ăn không cần cầu kỳ, chỉ cần mang theo tình thân — như bát chè dọc mùng của bà Ken năm ấy.


Bát chè dọc mùng năm ấy 

Trưa hè bà gõ cửa trao tay,

Ngọt thanh chưa từng nơi đất mẹ, 

Ba mươi năm nhớ mãi không phai.


P/s: Có những điều tưởng nhỏ bé, như một bát chè dọc mùng giữa trưa hè, lại hóa thành ký ức theo ta suốt đời. Nếu ai đó từng sống trong khu tập thể năm ấy, từng quen bà Ken, từng ăn món chè lạ lẫm ấy — xin hãy nhắn cho tôi một lời. Biết đâu, ký ức lại được nối dài thêm một đoạn, giữa những người đã từng đi qua nhau trong một mùa hè rất cũ.

Bạn thử nấu chè dọc mùng?



Thứ Sáu, 14 tháng 11, 2025

Một Thời Bao Cấp – Chuyện Bà Phiểng Ở Đức

   Ký sự về bà Phiểng – du học sinh Việt Nam ở CHDC Đức thời bao cấp, vừa học vừa làm thêm, chắt chiu từng đồng để đưa chồng con sang thăm. Một lát cắt nhỏ mà gợi nhớ cả một thời gian khó.

Ga tàu Dresden - Ảnh Internet

   Khởi đầu nơi đất khách

   Bà Phiểng sang Cộng hòa Dân chủ Đức để học nâng cao nghiệp vụ ngành giao thông vận tải. Học bổng Nhà nước thời ấy ít ỏi, vừa đủ chi tiêu cơ bản. Để tồn tại nơi đất khách, bà nhận thêm việc quét dọn sàn toa tàu vào ban đêm.

   Công việc không quá nặng nhưng kéo dài suốt từ tối đến sáng. Mỗi ca được trả 100 mark – số tiền quý đến mức bà phải nâng niu từng tờ một, coi như hơi ấm quê nhà giữa cái lạnh xứ người.

 Tích góp cho một niềm vui

   Một năm làm thêm trôi qua, từng đồng mark nhỏ gom góp cuối cùng cũng đủ để bà Phiểng thực hiện một mong ước lớn: mời chồng và các con sang Đức thăm nửa tháng.

   Những năm ấy, ở Việt Nam vẫn còn khó khăn bộn bề, nên chuyện đi nước ngoài là điều xa xỉ. Vậy mà bà Phiểng đã làm được – bằng sự chăm chỉ, tiết kiệm và tấm lòng hướng về gia đình không lúc nào nguôi.

 Quần áo – hành lý và những mẹo nhỏ thời bao cấp

   Ông Chiêng và các con bận rộn chuẩn bị về nước. Tranh thủ mang theo ít quần áo mới, áo cũ để đem về Việt Nam. Hành lý tiêu chuẩn chỉ 20kg, vậy mà còn biết bao thứ muốn mang theo.

   Cả nhà nghĩ ra một mẹo rất “bao cấp”: mặc nhiều lớp quần áo lên người cho đỡ cân. Riêng chiếc áo măng tô cồng kềnh thì không thể mặc, đành cầm tay.

 Cửa khẩu Berlin – khoảnh khắc nhớ mãi

   Đến cửa hải quan Berlin, rắc rối xảy ra: chiếc áo măng tô bị giữ lại. Nhân viên hải quan cho rằng món đồ này không nằm trong hành lý cho phép.

   Ông Chiêng thì nhất quyết không bỏ. Hai bên giằng co – người kéo, người giữ, áo bay phấp phới trong luồng gió sân bay. Cuối cùng, có lẽ vì thương cho vị khách Á Đông hiền lành, ông hải quan đành nhượng bộ.

   Chiếc áo măng tô được mang về Việt Nam an toàn, trở thành “nhân chứng” cho một cuộc hành trình đầy tiếng cười lẫn hồi hộp.

 Một thời để nhớ

   Câu chuyện nhỏ bé của bà Phiểng – của một gia đình Việt Nam nơi đất Đức – lại chứa đựng biết bao ký ức thời bao cấp: thiếu thốn, vất vả, nhưng luôn sáng lên sự kiên cường và tình thân yêu.

   Một chút hài hước ở cửa khẩu, một chút cảm động của người mẹ lam lũ, và cả những nỗ lực thầm lặng để gìn giữ niềm vui gia đình giữa thập niên khó khăn ấy.


Gió Berlin nghe như gió bãi bồi,

Mùi toa tàu khơi dậy miền ký ức.

Một bóng Việt lặng thầm gom tiếng Đức,

Đổi đêm dài lấy chút ấm gia đình.


Áo măng tô vượt nửa kiếp hành trình,

Qua cửa khẩu mà lòng run như rét.

Thời bao cấp – nghèo mà thương tha thiết,

Nhặt từng niềm vui giữa đất khách xa xôi.


P/s:

  Có những ký ức tưởng như vụn vặt, nhưng lại soi chiếu cả một thời. Viết lại để nhớ, để thương – để thấy rằng chính những gian khó năm xưa đã làm nên sức bền, sự gắn bó và tình cảm gia đình không gì thay thế được.

--




Thứ Năm, 13 tháng 11, 2025

Vương Quan (Em Thúy Kiều, Thúy Vân) Trong Truyện Kiều

   Có những người chỉ xuất hiện trong đôi ba câu chữ, nhưng vẫn giữ cho trang thơ thêm trọn vẹn.

   Vương Quan – em trai của Thúy Kiều và Thúy Vân – là người như thế.

   Chàng hiện lên trong một ngày Thanh minh trong trẻo, giữa cỏ non và gió nhẹ, như một nét bình yên giữa bức tranh định mệnh đang dần mở ra.

Vương Quan - Do tưởng tượng và trợ giúp của công nghệ📷

🍃 1. Một nét vẽ mờ mà sáng

   Nguyễn Du không tả kỹ dung mạo hay tài năng của Vương Quan. Cậu chỉ xuất hiện trong khung cảnh dịu dàng của mùa xuân:

“Thanh minh trong tiết tháng ba,

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.

Gần xa nô nức yến anh,

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân…”

   Rồi đến khi “tà tà bóng ngả về tây”, chị em “thơ thẩn dan tay ra về” — ta hình dung đâu đó có bóng dáng người em trai lặng lẽ đi bên, như nét chấm nhẹ mà tinh tế của một gia đình gia giáo.

🌸 2. Người kể chuyện đầu tiên

   Khi ba chị em đi qua nấm mộ nhỏ bên đường, Thúy Kiều động lòng mà hỏi:

 “...Thanh minh trong tiết tháng ba 

 Mà sao hương khói vắng tanh thế này?..."

   Chính lúc ấy, Vương Quan lên tiếng, kể lại lai lịch người ca kỹ tài hoa bạc mệnh:

"...Đạm Tiên thuở ấy cũng là ca nhi 

Nổi danh tài sắc một thì 

Xôn xao ngoài cửa hiếm gì yến anh

Kiếp hồng nhan có mong manh..."

   Rồi khi Kiều cảm khái mà nói nên lời thương cảm, Vương Quan khẽ nhắc:

 “Quan rằng: Chị nói hay sao,

Một lời là một vận vào khó nghe.”

   Chỉ mấy câu đối đáp ấy thôi, mà Nguyễn Du đã khéo léo đặt Vương Quan vào vị trí của người mở chuyện – người kể đầu tiên trong chuỗi nhân duyên bi kịch của Kiều.

📖 3. Một vai nhỏ trong khúc đời lớn

   Nếu không có Vương Quan, sẽ không có câu chuyện Đạm Tiên, không có nỗi cảm thương của Kiều, và cũng chẳng có mối duyên định mệnh với Kim Trọng.

   Cậu em trai hiền lành, tưởng chỉ góp mặt cho đủ, lại vô tình giữ vai trò như người gõ nhẹ vào cánh cửa số phận.

   Nguyễn Du tinh tế đến thế: cái lớn luôn khởi đầu từ điều nhỏ, cái bi thương mở đầu từ một tấm lòng nhân hậu.

💠 4. Cái đẹp của sự bình lặng

   Vương Quan không phải anh hùng, chẳng tài tử đa tình, nhưng chính sự bình dị ấy làm nên chiều sâu cho bức tranh nhân luân.

   Chàng là hiện thân của nếp nhà Nho học – trọng lễ, trọng hiếu, biết trên biết dưới.

   Giữa thế giới nhiều sóng gió của Kiều, hình bóng người em ấy giống như ngọn đèn nhỏ trong căn nhà cổ, đủ soi sáng sự nền nã, êm đềm.

🌾 5. Kết

   Vương Quan là nét sáng nhẹ trong Truyện Kiều, là chứng nhân của khởi đầu, là người đứng ở rìa mà lại chạm sâu vào mạch truyện.

   Nguyễn Du không cần viết nhiều – chỉ một vài lời đối đáp, đã khiến ta nhớ mãi dáng người nho sinh hiền lành, tinh tế.


Vương Quan nho nhã phong lưu,

Bên hai chị bước qua cầu gió xuân.

Nét cười hiền, dáng tinh vân,

Nhẹ như tơ khói, trong ngần tuổi hoa.


💌 P/s

   Có những người chỉ đi bên đời người khác thật khẽ, nhưng chính họ giữ cho ký ức thêm tròn đầy. Vương Quan – người em trai của Thúy Kiều – là thế: lặng mà sáng, nhỏ mà đủ để làm ấm cả một trang thơ cổ.

---




Thứ Tư, 12 tháng 11, 2025

Tự Ti Và Tự Tin

 Ngày Xưa Học Dốt Mà Giờ Viết Hay

(Nhân nghe được người hàng xóm mắng con về chuyện học hành, tôi chợt nghĩ...)

CỔ & CŨ – Du Hà Ngọc 

   Có những buổi sáng mùa thu, tôi ngồi lật lại cuốn vở cũ. Trang giấy ngả vàng, dòng chữ nguệch ngoạc năm nào bỗng khiến tôi bật cười. Ngày ấy, tôi học dốt thật. Cô giáo hỏi, tôi cúi gằm mặt. Bảng đen, phấn trắng, chữ mình thì cứ như con kiến bò. Mỗi lần điểm kiểm tra về, mẹ chỉ thở dài:

Bút lông - Ảnh Internet 

– Con học kiểu này rồi lớn lên làm gì được?

   Tôi cũng chẳng biết. Chỉ thấy đầu óc lúc nào cũng bay theo đám mây ngoài cửa sổ, hay mùi rơm khô lẫn trong gió đồng quê. Có lẽ, trong khi người ta học công thức, học thuộc lòng, tôi lại học cách mơ mộng.

   Rồi thời gian như một cơn gió dài. Tôi đi qua tuổi trẻ, qua mấy mùa đói no, qua cả những đoạn đường lặng lẽ đến quên mình. Một ngày, tự dưng tôi cầm bút, viết lại những chuyện cũ. Ban đầu, chỉ là vài dòng vu vơ. Rồi chữ kéo chữ, ký ức kéo theo hồn. Mỗi câu chữ như một người bạn cũ, đi xa lâu ngày nay trở về, gõ nhẹ cửa lòng.

   Giờ, ai đọc rồi cũng bảo: “Sao viết hay thế?”.

   Tôi chỉ cười. Có lẽ vì ngày xưa dốt quá, nên chữ thương mà ở lại.

   Hóa ra, chẳng có gì vô ích – kể cả những năm tháng ngồi cuối lớp.

   Chúng ta chỉ cần sống đủ sâu, thương đủ thật, rồi chữ nghĩa sẽ tự khắc biết cách kể lại đời mình – bằng giọng chậm rãi, mộc mạc, như thể thời gian cũng đang ngồi nghe.


P/s:

   Trong cái "cơ chế thị trường" hôm nay, áp lực học hành của học sinh ngày càng lớn, học 2 buổi, học 2 ngoại ngữ, câu lạc bộ toán, câu lạc bộ tiếng Anh...vân vân và vân vân.

   Đã có những em do áp lực học hành mà quên sinh. Các em đừng dại dột! Hai mươi năm đầu đời là quan trọng nhưng không phải là tất cả. Hai mươi năm cuối đời mới thực sự là ý nghĩa của một đời người. Hãy bình tâm, từ từ mà bước!

---



Thứ Ba, 11 tháng 11, 2025

Nồi Canh Riêu Cua Nấu Dọc – Hương Vị Tuổi Thơ Miền Quê

   Một nồi canh riêu cua nấu dọc – không chỉ là món ăn, mà là cả một bầu trời ký ức tuổi thơ bên ruộng lúa, bụi cỏ và tình mẹ.

Quả dọc - Ảnh Internet 

 Tháng Năm, Tháng Sáu – Mùa Cua Đồng

   Cứ vào độ tháng năm, tháng sáu âm lịch, khi lúa đã gặt xong, ruộng chỉ còn trơ gốc rạ vàng úa dưới nắng hè gay gắt. Nước ruộng cạn dần, nóng như sôi. Những con cua đồng – lớn có, bé có – bò lổm ngổm lên bờ, chui rúc vào các bụi cỏ rậm để tránh nóng.

   Tôi – thằng bé đen nhẻm ngày ấy – đội nón lá, đeo giỏ tre bên hông, lội ruộng, vạch từng đám cỏ, tay thoăn thoắt bắt cua. Chẳng mấy chốc, giỏ đã nặng trĩu. Mỗi lần bắt được con cua to, gạch son đầy mai, lòng lại reo lên: “Tối nay mẹ nấu canh riêu chắc ngon lắm!”

 Mẹ Tôi Và Nồi Canh Thần Kỳ

   Về nhà, mẹ đổ cua ra chậu, rửa sạch, xé mai, bỏ yếm, khều gạch son vàng ươm để riêng. Phần thân cua cho vào cối đá giã nhuyễn, thêm chút nước, rồi lọc lấy nước đặc sệt – thứ nước đục ngầu nhưng chứa trọn vị ngọt của đồng quê.

   Trong bếp, mẹ lùi vào tro nóng vài quả dọc gần chín cây (loại dọc quả nhỏ, thịt vàng, chua ngọt tự nhiên). Nướng vừa chín tới, mẹ gỡ bỏ hạt, chỉ lấy phần thịt mềm, cho vào nồi nước cua đang sôi lăn tăn. Chờ một lúc, mẹ thả bát gạch cua vào, khuấy nhẹ. Tức thì, gạch cua nổi lên thành từng mảng béo ngậy, thơm lừng.

   Nồi canh bắc ra, đặt giữa mâm cơm. Chỉ cần thêm bát cơm trắng nóng hổi, chút muối ớt, là cả nhà quây quần bên nhau, húp từng thìa canh chua ngọt, béo bùi, mát lành. Hôm nào sang thì có ít mì sợi trắng luộc lên, để nguội và chan với canh riêu cua. 

 Giờ Đây, Chỉ Còn Là Ký Ức

   Giờ đây, ruộng đồng đã thu hẹp, cua đồng hiếm dần, hai cây dọc trong vườn nhà cũng đã bị chặt đi từ lâu. Mẹ vẫn còn đó, nhưng đôi tay mẹ không còn giã cua trong cối đá nữa. Nồi canh riêu cua nấu dọc – món ăn giản dị một thời – giờ chỉ còn trong ký ức.

   Nhưng ký ức thì không bao giờ phai. Mỗi lần hè về, mỗi lần thấy nắng vàng trên cánh đồng, tôi lại nhớ mùi khói bếp, mùi gạch cua nồng nàn, và nụ cười của mẹ khi múc canh ra bát.

Tháng năm nắng cháy đồng khô,

Cua bò lẩn khuất, giỏ vô đầy rồi.

Mẹ ngồi lùi củi tro vơi,

Khói lam nhuộm tím một trời tuổi thơ.


P/s: Nếu bạn còn giữ được một góc ký ức tuổi thơ như thế, hãy trân quý nó. Và nếu có dịp, hãy thử nấu một nồi canh riêu cua với dọc – dù chỉ để nếm lại một chút hương vị xưa cũ giữa cuộc sống bộn bề hôm nay.

   Viết tặng những người con miền quê – nơi tuổi thơ bắt đầu từ một giỏ cua và một nồi canh mẹ nấu.

📖 TUYỂN TẬP HAIKU: Người chưa gọi tên

🌿 Lời Tựa: Người chưa gọi tên

   Có những cảm xúc đến rất khẽ — như ánh nắng đầu ngày lướt qua mái tóc, như tiếng dế rền trong đêm trăng mười bốn, như một ánh mắt chạm nhau rồi lặng lẽ rời đi. Người chưa gọi tên là tuyển tập haiku dành cho những khoảnh khắc như thế: ngắn ngủi, mong manh, nhưng đủ để khiến lòng người rung động.

   Tập thơ này không kể một câu chuyện cụ thể, mà là những mảnh ghép cảm xúc: từ lần đầu nhìn thấy bóng người phía trước, đến những buổi sáng giả vờ tập thể dục chỉ để được gần hơn một chút. Từ nỗi nhớ quê nhà với mùi rơm, tiếng dế, ánh trăng, đến những lần ngồi bên nhau không nói gì, nhưng lòng thì đầy hoa.

   Haiku – với cấu trúc ngắn gọn – là thể thơ lý tưởng để lưu giữ những khoảnh khắc như thế. Mỗi bài thơ là một hơi thở, một cái nhìn, một tiếng lòng chưa gọi thành tên. Và có lẽ, chính sự chưa gọi tên ấy mới là điều khiến ta nhớ mãi.

   Nếu bạn từng yêu, từng nhớ, từng ngập ngừng, từng chờ đợi – thì mời bạn cùng bước vào thế giới của Người chưa gọi tên. Biết đâu, bạn sẽ thấy chính mình trong một bài thơ nào đó.

I. Bóng Người Phía Trước

   Những bài thơ đầu tiên – nơi ánh nhìn đầu tiên chạm vào dáng người lạ, và lòng bắt đầu rung động.

Người chưa gọi tên 


Nắng thu sáng mai –  

nhẹ nhàng trên mái tóc  

Theo sau là tôi.


Bóng người phía trước  

Nắng thu vương trên tóc  

Tôi bước lặng thinh.


Mỗi sáng thu về  

Vẫn dáng ấy bên hồ  

Tim tôi ngẩn ngơ.


II. Trăng Quê Lặng Lẽ

   Những bài thơ mang hương vị quê nhà, với trăng, tiếng dế, mùi rơm, và nỗi nhớ không tên.


   Trăng chưa tròn hẳn  

   Giun dế râm ran mãi  

   Lòng chẳng ngủ yên.


   Trăng đêm mười bốn  

   Tiếng quê ru giấc mộng  

   Mà tôi còn thức.


   Trăng treo đầu ngõ  

   Tiếng dế rền như sóng  

   Lòng người chập chờn.


   Gió lùa qua lá  

   Mùi rơm thơm phảng phất  

   Ngỡ giấc tuổi thơ.


   Ao làng lặng lẽ  

   Bóng tre nghiêng soi nước  

   Một tiếng ếch vang.


   Đêm chưa ngủ yên  

   Trăng mười bốn chưa trọn  

   Tôi chưa tròn mơ.


   Mẹ ngồi nhặt đậu  

   Ánh trăng rơi trên tay  

   Thời gian lặng thinh.


   Chó sủa đầu làng  

   Trăng rơi vào giấc mộng  

   Người xa chưa về.


III. Người Lạ Hay Quen?

   Sự ngập ngừng, băn khoăn giữa quen và lạ, giữa cảm xúc và lý trí, giữa muốn gọi tên và chưa dám.


   Hai sáng chưa gặp  

   Đêm quê dài thao thức  

   Người lạ thế không?


   Ghế đá còn đó  

   Chỗ người từng ngồi qua  

   Gió vẫn đi ngang.


   Người lạ thế không?  

   Hay là quen từ trước  

   Chỉ chưa gọi tên.


   Cây cau đứng lặng  

   Trăng rơi xuống mái nhà  

   Người còn xa quá.


   Chén trà nguội lạnh  

   Mắt nhìn qua khung cửa  

   Không ai ghé thăm.


   Tôi gọi tên gió  

   Gió không quay đầu lại  

   Chỉ mang hương người.


IV. Ghế Đá Gốc Cây

   Nơi chốn quen thuộc chứng kiến những lần gặp gỡ, chờ đợi, và cả những khoảng trống không người.


   Sáng sớm làn gió  

   Ghế đá gốc cây ấy  

   Nhìn về một hướng.


   Ánh nắng đầu ngày  

   Chiếc bóng nghiêng bên gốc  

   Không ai gọi tên.


   Một hướng nhìn mãi  

   Có phải chờ ai không?  

   Hay chỉ thói quen.


   Một chiếc lá rơi  

   Chạm vào chỗ người ngồi  

   Tôi không dám nhặt.


V. Gặp Mà Không Nói

   Những lần ánh mắt chạm nhau, lòng muốn nói nhưng lời thì treo lơ lửng giữa tim.


   Gặp nhau đi qua  

   Nhìn thẳng nhưng thấy nhau  

   Muốn nói mà không.


   Bóng người lướt qua  

   Gió cũng không kịp hỏi  

   Lòng thì muốn dừng.


   Ánh mắt chạm nhau  

   Như tia nắng cuối chiều  

   Không ai giữ lại.


   Một lời chưa nói  

   Treo lơ lửng giữa tim  

   Rơi vào thinh lặng.


VI. Sáng Sớm Bên Nhau

   Khoảnh khắc hiếm hoi được ngồi cạnh nhau, không cần lời, chỉ cần sự hiện diện.


   Sáng sớm hôm nay 

   Nhờ Trời ngồi bên nhau  

   Thấy hạnh phúc ghê.


   Gió sớm lướt qua  

   Tay chạm tay một thoáng  

   Mà tim rộn ràng.


   Chim hót đầu cành  

   Người ngồi bên không nói  

   Mà lòng đầy hoa.


   Cà phê chưa nguội  

   Ánh mắt chưa rời nhau  

   Trời chưa vội nắng.


VII. Giả Vờ Tập Thể Dục

   Những bài thơ hài hước, tinh nghịch – nơi trái tim lén lút đi tìm một bóng hình quen.


   Giả vờ giả vịt 

   Chăm chỉ tập thể dục  

   Ngó lơ tìm hoa.


   Chạy vòng quanh hồ  

   Mắt thì không nhìn đất  

   Chỉ tìm dáng quen.


   Gập bụng mười cái  

   Mỗi lần nghĩ một tên  

   Người chưa từng gọi.


   Đổ mồ hôi rồi  

   Mà tim vẫn chưa mát  

   Vì ai đó thôi.


VIII. Chiều Buông Thu Phai

   Khi mùa thu dần trôi, mặt hồ lặng lẽ, và ghế đá chỉ còn một người ngồi lại với nỗi nhớ.


   Chiều buông thu phai  

   Mặt hồ yên lặng lẽ  

   Ghế đá mình tôi.


   Ánh nắng cuối ngày  

   Vương trên tà áo mỏng  

   Người không ngoảnh nhìn.


   Gió lùa qua tóc  

   Ghế đá vẫn còn đó  

   Chỉ thiếu một người.


   Thu phai rất khẽ  

   Không ai hay màu lá  

   Đã đổi trong tim.


Lần gặp đầu ngõ 

Cúi mặt xuống rất nhanh 

Sao lại bối rối?

Người chưa gọi tên 

Lời Bạt: Người chưa gọi tên

   Có những cảm xúc không cần gọi tên, chỉ cần được sống trọn trong khoảnh khắc. Tuyển tập haiku này là hành trình của một trái tim đi qua những mùa thu, những đêm trăng quê, những buổi sáng sớm bên nhau, và cả những lần gặp gỡ không lời. Mỗi bài thơ là một nhịp thở, một ánh nhìn, một tiếng lòng – ngắn gọn nhưng đầy dư âm.

   Tác giả không cố gắng lý giải cảm xúc, không ép buộc ngôn từ phải nói thay trái tim. Thay vào đó, từng câu haiku như một chiếc lá rơi đúng lúc, đúng nơi – để người đọc tự mình cảm nhận, tự mình nhớ lại, hoặc tự mình rung động.

   Người chưa gọi tên không chỉ là một tập thơ. Đó là một khoảng lặng để ta soi mình, để thấy rằng trong cuộc sống hối hả, vẫn có những điều đẹp đẽ đến từ sự im lặng, từ ánh mắt chưa nói, từ dáng người phía trước, từ chiếc ghế đá không người ngồi.

   Nếu bạn từng yêu, từng nhớ, từng ngập ngừng, từng chờ đợi – thì có lẽ, bạn cũng từng là “người chưa gọi tên” trong một bài thơ nào đó.

---


Thứ Hai, 10 tháng 11, 2025

Chiếc Quạt Trần Hoàn Kiếm – Chỉ Chạy Một Số

   Giữa cái nóng hầm hập của năm 1985, một chiếc quạt trần hiệu Hoàn Kiếm được treo lên trần nhà – không hộp số, không sang trọng, chỉ có một tốc độ duy nhất. Ấy vậy mà cơn gió của nó đã thổi mát cả một đời người, gợi về thời bao cấp nghèo mà yên bình, nơi hạnh phúc đến từ những điều giản dị nhất.

Quạt trần - Ảnh Internet 

 Cơn gió cũ của năm 1985

   Năm ấy, 1985. Giữa gian nhà mái ngói xi măng - cát lụp xụp, cái nóng mùa hè như trút xuống đầu. Sau khi bán con lợn được 1.300 đồng — cả một gia tài nhỏ của hai vợ chồng — chúng tôi bàn nhau mua quạt trần. Tính thì vậy, nhưng “biết mua ở đâu bây giờ?”.

   “Cầu được ước thấy”, vợ tôi nhờ được người cùng cơ quan mua hộ. Mấy hôm sau, vợ tôi hí hửng mang về một chiếc quạt trần hiệu Hoàn Kiếm, ba cánh sắt xanh, bóng sơn còn thơm mùi mới. Vui thì vui, nhưng nhìn kỹ mới hay: không có hộp số.

 Cơn gió đầu tiên

   Tôi treo quạt lên xà nhà, cắm điện thử. Cánh quạt quay vù vù, giấy tờ bay tán loạn, tóc vợ cũng tung bay phấp phới. Cả nhà ngồi ngẩn ra nhìn — vừa buồn cười, vừa sợ quạt rơi.

   Tôi thầm nghĩ: “Hay là họ bán thiếu hộp số? Hay không đủ tiền mà không dám nói?” Nhưng rồi lại cười xòa: “Thôi, được cái quạt là may rồi!”

   Từ hôm đó, mùa hè không còn khắc nghiệt như trước. Cái quạt trần chỉ có một tốc độ, mà gió thì như có hồn – quay lúc mạnh, lúc yếu, tùy…nguồn điện. Mỗi khi điện yếu, nó cũng “tự nghỉ” cho đỡ mệt. Cứ thế, cơn gió của chiếc quạt Hoàn Kiếm đã làm mát mẻ suốt bao năm, gắn bó với mọi bữa cơm, giấc ngủ và tiếng quạt ro ro đều đặn giữa trưa tròn nắng.

 Khi quạt nghỉ hưu

   Giờ đây, những chiếc quạt mới đầy nút bấm, remote, đèn LED đã chen kín siêu thị. Chiếc Hoàn Kiếm năm nào được xếp vào góc nhà kho — ba cánh sắt xanh đã bạc màu, logo mờ, motor không còn chạy được nữa.

   Tôi không nỡ vứt đi. Vì nó không chỉ là cái quạt.

   Nó là cơn gió đầu tiên của thời tiết kiệm mà đủ đầy, là niềm hạnh phúc giản dị trong căn nhà chật, là ký ức của một đời chăm chỉ và thương yêu.

 Gió vẫn còn đây

Cánh quạt xoay, tiếng gió già,

Thổi qua năm tháng, thổi qua mái nhà.

Một số thôi – mà tròn hạnh phúc,

Mát lành hoài, giấc ngủ bao la.


“Bài đăng thuộc blog CỔ & CŨ – Du Hà Ngọc (kinhramcodiendep.blogspot.com).”


P/s:

Có những thứ không cần đổi số – vì nó thuộc về một thời không đo bằng tốc độ, mà bằng sự đủ đầy của lòng người.

Trang "kinhramcodiendep.blospot.com" đã được đổi thành "covacu2025.blogspot.com"

---




Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2025

Hồ Gươm – Mảnh Lưu Ảnh Giữa Trái Tim Hà Nội Xưa

(Phong cách CỔ & CŨ – Du Hà Ngọc)

   Ngày trước, khi Hà Nội còn trầm mình trong những mùa cũ, Hồ Gươm đã nằm đó — lặng lẽ như một vết thời gian không ai xóa được. Người đời gọi hồ bằng cái tên giản dị mà ấm áp: Hồ Gươm. Chẳng ai nhớ tên ấy bắt đầu từ thuở nào, chỉ biết nó đã hóa thành một tiếng thở dài dịu vợi, theo những bước chân già đi của bao thế hệ.

   Đầu thế kỷ XX, quanh hồ là tiếng tàu điện leng keng, là bóng áo dài của những thiếu nữ đi nghiêng dưới tán lộc vừng, là dáng mũ phớt của những ông Hà Nội cũ bước chậm rãi qua đời mình. Tất cả đã tan vào sương khói, chỉ còn những tấm bưu ảnh bạc màu, và một mặt hồ xanh vẫn lặng như đang giữ hộ những điều mà thời gian không kịp mang đi.
Hồ Gươm - Mùa đông 

1. Truyền thuyết – Dòng chảy ngầm của lịch sử

   Người xưa kể rằng rùa thần từng nổi lên trao gươm cho Lê Lợi để dẹp giặc. Khi đất nước yên bình, nhà vua trả lại gươm trong mảnh nước này. Truyền thuyết ấy, qua bao năm tháng, đã lắng xuống thành một niềm tin âm thầm: Thăng Long dù trải qua bao bão giông, vẫn còn giữ được cái khí phách ngàn đời.

2. Những dấu tích quanh hồ – Những điều cũ còn sót lại

   Đền Ngọc Sơn – Cầu Thê Húc
   Cầu đỏ cong như một nhịp thở của thời gian, đưa người bước vào nơi hương trầm vẫn cháy chậm, như một nỗi niềm xưa chưa kịp tàn.

   Tháp Rùa
   Tháp nhỏ, đứng giữa hồ im ắng, như một người già biết nhiều chuyện nhưng chọn im lặng. Mỗi buổi chiều, bóng tháp đổ xuống mặt nước — một chiếc bóng đã đi theo Hà Nội suốt mấy đời người.

   Phố cổ
   Ba mươi sáu phố phường vẫn còn đó, nhưng nhiều khi bước qua, người ta chỉ thấy tiếng vọng của những điều đã cũ: tiếng rao khàn đục, mái ngói thâm lại, những bảng hiệu tiếng Pháp như đang mờ dần vào ký ức.

3. Những điều để thương, để nhớ

* Một vòng hồ buổi sớm, nơi sương mỏng như lá thư không người nhận.
* Chút gió nhẹ làm mặt nước run rẩy, như chạm vào điều gì đó xưa lắm.
* Một bức ảnh giữ riêng mình, để nhớ những ngày trẻ đã trôi qua mà không kịp níu.

4. Có những nỗi nhớ già theo tuổi

   Tôi vẫn còn nhớ, mấy chục năm trời, ngày nào cũng đi qua Hồ Gươm. Sáng vội vã đến cơ quan, chiều lặng lẽ trở về, chỉ cần nhìn mặt nước xanh là thấy lòng mình bớt chênh vênh. Có ngày bận đến mức chỉ kịp đưa mắt qua một lần — vậy mà cái nhìn ấy vẫn đủ để giữ lại một chút bình yên khó gọi thành tên.

   Giờ nghỉ hưu đã hơn mười năm. Sớm nào thức dậy cũng thấy thiếu vắng điều gì đó. Lâu rồi mới hiểu, hóa ra mình nhớ Hồ Gươm.
   Nhớ dáng liễu rủ chạm mặt nước, nhớ tiếng bước chân đều đều trên vỉa hè cũ, nhớ cả những buổi chiều đứng lặng nhìn Tháp Rùa, như nhìn chính tuổi mình đang chìm xuống lớp nước xanh ấy.

   Có những nỗi nhớ không cất lên thành lời — chỉ nằm im, nặng dần theo năm tháng. Giống như bóng tháp giữa hồ: chẳng bao giờ biến mất, chỉ càng trầm sâu hơn.

5. Vì sao Hồ Gươm luôn ở lại?

   Vì nơi đây cất giữ phần hồn của Hà Nội — thứ hồn không phô trương, không ồn ào, chỉ lặng lẽ ngấm vào người như mùi trầm cũ.
   Ai từng sống với Hà Nội đều gửi lại một chút mình ở đây: buổi hẹn đầu, một chiều chờ mưa, hay một khoảng lặng rất mỏng của đời người.
Hồi còn trẻ 

   Hồ Gươm không giữ chân ai, nhưng giữ hộ họ những gì đẹp nhất — dù họ có đi xa đến đâu.

Kết

Cầu Thê Húc vẫn đỏ như một mảng ký ức chưa phai.
Tháp Rùa vẫn đứng đó, già đi cùng thành phố.
Hà Nội đổi khác từng ngày, chỉ mặt hồ là còn ở lại — như người bạn cũ không nói gì, nhưng luôn ngồi đó, chờ ta trở về.

Sóng khẽ gợn, gió nghiêng mình,
Tàu điện xưa chỉ còn trong giấc nhớ.
Người đi, thời gian đi,
Chỉ Hồ Gươm ở lại — lặng im mà thương đến nhói lòng.

---


Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2025

Vương Thúy Vân Trong Truyện Kiều

   Trong thế giới bi thương mà Nguyễn Du dựng nên, Vương Thúy Vân hiện lên như vầng trăng an hòa, mang vẻ đẹp dịu dàng, phúc hậu và thuần khiết. Không tài sắc nghiêng nước nghiêng thành như chị Kiều, Thúy Vân lại chinh phục lòng người bằng nết na, đức độ và sự bao dung – hình ảnh điển hình cho người phụ nữ Việt Nam xưa.

🌸 Vương Thúy Vân – Nét Đoan Trang Giữa Bão Giông Truyện Kiều

   Trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du, nhắc đến họ Vương, người ta thường nhớ ngay đến Vương Thúy Kiều — người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng truân chuyên. Thế nhưng, có một người em gái lặng lẽ tỏa sáng theo cách riêng của mình – đó chính là Vương Thúy Vân.

Do tưởng tượng và trợ giúp của công nghệ📷

1. Vẻ đẹp phúc hậu, hiền hòa như trăng mùa thu

   Ngay từ những câu đầu, Nguyễn Du đã khắc họa Thúy Vân với vẻ đẹp đoan trang, dịu dàng:

 “Vân xem trang trọng khác vời,

Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.

Hoa cười, ngọc thốt đoan trang,

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.”

   Không lộng lẫy như Thúy Kiều, nhưng Thúy Vân lại mang vẻ đẹp ấm áp và thuần khiết – thứ ánh sáng khiến người ta cảm thấy yên tâm, nhẹ nhõm.

   Nếu Kiều là ánh trăng rực rỡ trên đỉnh trời, thì Vân là vầng trăng hiền hậu giữa ao thu tĩnh lặng.

2. Người con gái của chữ “An”

   Trong khi Kiều phải trả giá cho chữ “Tài”, thì Thúy Vân được trời phú cho chữ “An”.

   Đời nàng không có những khúc quanh nghiệt ngã, không phải trải qua lưu lạc hay đau khổ vì tình.

   Nàng chính là biểu tượng của sự trọn nghĩa và lòng nhân hậu, khi chấp nhận “nối duyên” cùng Kim Trọng thay chị, để chữ hiếu và chữ tình đều được vẹn tròn.

   Hình ảnh Thúy Vân nhắc ta rằng:

   Không phải ai rực rỡ mới đáng nhớ. Có những người, chỉ cần bình an cũng đủ làm nên cái đẹp của đời.

3. Thúy Vân – bóng dịu của một thời

   Trong thế giới đầy bi thương của Truyện Kiều, Thúy Vân giống như một nhành sen nở muộn, mang đến hơi ấm của lòng bao dung.

   Đó là vẻ đẹp của người phụ nữ Việt xưa – nết na, kín đáo, chu toàn mà vẫn toát lên sức mạnh mềm mại của tình thương.

🌾 Lời kết: Khi vẻ đẹp nằm ở sự bình an

   Giữa những bi kịch và khát vọng trong Truyện Kiều, Vương Thúy Vân xuất hiện như một nốt nhạc êm trong bản trường ca nhân thế.

   Nàng không khiến người đời xót xa như Kiều, nhưng lại khiến người ta nhớ mãi bởi vẻ đẹp của sự hiền hòa, thấu hiểu và vị tha.

   Có lẽ, Nguyễn Du muốn gửi gắm rằng:

   Đời người, hơn thua cũng chỉ để tìm chút bình yên. Và bình yên — chính là vẻ đẹp vĩnh cửu nhất.

Người ta gánh nghiệp chữ “Tài”,

Vân mang chữ “Phúc” nhẹ thay gió đời.

Không hoa lệ, chẳng rối bời,

Mà an nhiên giữa đất trời thênh thang.


P/s: Trong thế giới ngày nay – nơi người ta mải chạy theo hào quang – đôi khi, sống như Thúy Vân: lặng lẽ, chân thành và bình an… lại là một điều quý giá nhất. 🌸

Nếu bạn thấy bài viết hữu ích, đừng ngần ngại để lại một lời nhắn hoặc chia sẻ cho bạn bè!


Khi tiếng súng bên ngoài gặp vết rạn bên trong

Khủng hoảng nội bộ Lục quân Mỹ giữa chiến sự Iran Có những cuộc chiến không bắt đầu từ tiếng súng. Chúng khởi đi từ những bất đồng âm thầm –...