Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2026

Bài diễn thuyết bằng quốc văn của ông Phạm Quỳnh

Bài diễn thuyết về Truyện Kiều này được Phạm Quỳnh đọc nhân lễ kỷ niệm ngày giỗ Nguyễn Du vào ngày 8 tháng 12 năm 1924, tức ngày mồng 10 tháng 8 năm Giáp Tý do Hội Khai trí tiến đức của ông tổ chức. Bài được đăng lại tại Tạp chí Nam Phong số 86. Bài diễn thuyết này mở đầu cho một cuộc tranh cãi nổi tiếng vào đầu thế kỷ XX, được người sau mệnh danh là Vụ án truyện Kiều.

Thưa các Ngài,

Hôm nay là ngày giỗ cụ Tiên-điền Nguyễn Tiên-sinh, là bậc đại-thi-nhân của nước Nam ta, đã làm ra bộ văn-chương tuyệt-tác là truyện Kim-Vân-Kiều.

Ban Văn-học Hội Khai-trí chúng tôi muốn nhân ngày giỗ này đặt một cuộc kỷ-niệm để nhắc lại cho quốc-dân nhớ đến công-nghiệp một người đã gây-dựng cho quốc-âm ta thành văn-chương, để lại cho chúng ta một cái « hương hỏa » rất quí-báu, đời đời làm vẻ-vang cho cả giống-nòi.

Chúng tôi thiết-nghĩ một bậc có công với văn-hóa nước nhà như thế, không phải là ông tổ riêng của một nhà một họ nữa, mà là ông tổ chung của cả nước; ngày giỗ ngài không phải là ngày kỷ-niệm riêng của một nhà một họ nữa, chính là ngày kỷ-niệm chung của cả nước.

Hiện nay suốt quốc-dân ta, trên từ hàng thượng-lưu học-thức, dưới đến kẻ lam-lũ làm ăn, bất-cứ già trẻ, lớn bé, đàn ông, đàn bà, ai ai cũng biết truyện Kiều, ai ai cũng thuộc truyện Kiều, ai ai cũng kể truyện Kiều, ai ai cũng ngâm truyện Kiều, như vậy thời ai ai cũng đều hưởng cái công-nghiệp của Cụ Tiên-điền ta, ai ai cũng phải nhớ ngày giỗ Cụ và nghĩ đến cái ơn của Cụ tác-thành cho tiếng nước nhà.

Muốn cảm cái ơn ấy cho đích-đáng, hẵng thử giả-thiết Cụ Tiên-điền không xuất-thế, Cụ Tiên-điền có xuất-thế mà quyển truyện Kiều không xuất-thế, quyển truyện Kiều có xuất-thế mà vì cớ gì không lưu-truyền, thời tình-cảnh tiếng An-Nam đến thế nào, tình-cảnh dân-tộc ta đến thế nào?

Văn-chương người ta thiên kinh vạn quyển, dẫu có thiếu mất một quyển cũng chẳng hại gì. Văn-chương mình chỉ độc có một quyển, vừa là kinh, vừa là truyện, vừa là Thánh-thư Phúc-âm của cả một dân-tộc, ví lại khuyết nốt thì dân-tộc ấy đến thế nào?

Than ôi! mỗi lần nghĩ tới mà không khỏi rùng mình, chột dạ, sửng-sốt, rụng-rời, tưởng như hòn ngọc ở trên tay bỗng rơi xuống vỡ tan-tành vậy. Rồi mới tỉnh ra, sực nhớ đến mấy câu Kiều, vỗ bàn đập ghế, gõ dịp rung đùi, lên giọng cao-ngâm:

     "Lơ-thơ tơ liễu buông mành,

Con oanh học nói trên cành mỉa-mai,"

hay là:

     "Phong-trần mài một lưỡi gươm,

Những phường giá áo túi cơm sá gì,"

bỗng thấy trong lòng vui-vẻ, trong dạ vững-vàng, muốn nhẩy muốn múa, muốn reo muốn hò, muốn ngạo-nghễ với non sông mà tự-phụ với người đời rằng: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ, có điều chi nữa mà ngờ!...

Có nghĩ cho xa-xôi, cho thấm-thía, mới hiểu rằng truyện Kiều đối với vận-mệnh nước ta có một cái quí-giá vô-ngần.

Một nước không thể không có quốc-hoa, truyện Kiều là quốc-hoa của ta; một nước không thể không có quốc-túy, truyện Kiều là quốc-túy của ta; một nước không thể không có quốc-hồn, truyện Kiều là quốc hồn của ta. Truyện Kiều là cái « văn-tự » của giống Việt-Nam ta đã « trước-bạ » với non sông đất nước này. Trong mấy nghìn năm ta chôn rau cắt rốn, gửi thịt gửi xương ở cõi đất này, mà ta vẫn hình như một giống ăn trọ ở nhờ, đối với đất nước non sông vẫn chưa từng có một cái văn-tự văn-khế phân-minh, chứng-nhận cho ta có cái quyền sở-hữu chính-đáng. Mãi đến thế-kỷ mới rồi mới có một đấng quốc-sĩ, vì nòi-giống, vì đồng-bào, vì tổ tiên, vì hậu-thế, rỏ máu làm mực, « tá-tả » một thiên văn-khế tuyệt-bút, khiến cho giống An-Nam được công-nhiên, nghiễm-nhiên, rõ-ràng, đích-đáng làm chủ-nhân-ông một cõi sơn-hà gấm vóc.

Đấng quốc-sĩ ấy là ai? Là Cụ Tiên-điền ta vậy. Thiên văn-khế ấy là gì? Là quyển truyện Kiều ta vậy.

     "Gẫm trong người ấy báu này,

Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm!"

Báu ấy mà lọt đến tay ta, thật cũng là một cái phúc-duyên cho ta, nhưng báu ấy ở trong tay Cụ lại chính là một cái túc duyên của Cụ. Thiên văn-tự tuyệt-bút kia là gồm bao nhiêu giọt máu, bao nhiêu giọt lệ kết-tinh lại mà thành ra, những khi đêm khuya thanh-vắng vẫn thường tỉ-tê thánh-thót trong lòng ta, như:

"Giọt sương gieo nặng cành xuân la-đà" vậy.

Cái áng văn-chương tuyệt-tác cho người đời đó, an-tri lại không phải là một thiên lịch-sử thống-thiết của tác-giả?

Truyện Kiều quan-hệ với thân-thế Cụ Tiên-điền thế nào, lát nữa ông Trần Trọng-Kim sẽ diễn-thuyết tường để các ngài nghe.

Nay tôi chỉ muốn biểu-dương cái giá-trị của truyện Kiều đối với văn-hóa nước ta, đối với văn-học thế-giới, để trong buổi kỷ-niệm này đồng-nhân cảm biết cái công-nghiệp của bậc thi-bá nước ta lớn-lao to-tát là dường nào.

Đối với văn-hóa nước nhà, cái địa-vị truyện Kiều đã cao-quí như thế; đối với văn-học thế-giới cái địa-vị truyện Kiều thế nào?

Không thể so-sánh với văn-chương khắp các nước, ta hẵng so-sánh với văn-chương hai nước có liền-tiếp quan-hệ với ta, là văn-chương Tàu và văn-chương Pháp. Văn-chương Tàu thật là mông-mênh bát-ngát, như bể như rừng. Nhưng trong rừng văn bể sách đó, tưởng cũng ít quyển sánh được với truyện Kiều, mà xét cho kỹ có lẽ không có sách nào giống như truyện Kiều. Gốc truyện tuy do một bộ tiểu-thuyết Tàu mà ra, nhưng vào tay Cụ Tiên-điền ta biến-hóa hẳn, siêu-việt ra ngoài cả lề-lối văn-chương Tàu, đột-ngột như một ngọn cô-phong ở giữa đám quần-sơn vạn-hác vậy. Có người sánh truyện Kiều với Li-tao, nhưng Li-tao là một bài than, từ đầu đến cuối toàn một giọng bi-đát thảm-thương, so với Cung-oán của ta có lẽ đúng hơn. Có người lại sánh với Tây-xương, nhưng Tây-xương là một bản hát, từ-điệu có véo-von, thanh-âm có réo-rắt, nhưng chẳng qua là một mớ ca-từ cho bọn con hát, không phải là một nền văn-chương chân-chính. Cứ thực thì truyện Kiều dẫu là đầm-thấm cái tinh-thần của văn-hóa Tàu, dẫu là dung-hòa những tài-liệu của văn-chương Tàu, mà có một cái đặc-sắc văn-chương Tàu không có. Cái đặc sắc ấy là sự « kết-cấu ». Nhà văn, nhà thơ Tàu, ngoài những bài thơ bài văn nho-nhỏ ngăn-ngắn, phàm làm sách chỉ biết cách biên-tập, không sành cách kết-cấu. Biên-tập là cóp-nhặt mà đặt liền lại; kết-cấu là thu-xếp mà gây-dựng lên, thế nào cho thành một cái toàn-bức các bộ-phận điều-hòa thích-hợp với nhau, không thêm bớt được chút nào. Truyện Kiều là một cái toàn-bức như thế, mà là một bức tranh thế-thái nhân-tình vẽ sự đời như cái gương tầy liếp vậy.

Xét về cách kết-cấu thì văn-chương nước Pháp lại là sở-trường lắm. Cho nên truyện Kiều có thể sánh với những áng thi-văn kiệt-tác của quí-quốc, như một bài bi-kịch của Racine hay một bài văn tế của Bossuet vậy. Đó là nói về cái thể-tài văn-chương. Còn về đường tinh-thần thời trong văn-học Pháp có hai cái tinh-thần khác nhau, là tinh-thần cổ-điển và tinh-thần lãng-mạn. Tinh-thần cổ-điển là trọng sự lề-lối, sự phép-tắc; tinh-thần lãng-mạn là trong sự khoáng-đãng, sự li-kỳ. Truyện Kiều gồm được cả hai cái tinh-thần ấy, vì vừa có cái đạo-vị thâm-trầm của Phật-học, vừa có cái nghĩa-lý sáng-sủa của Nho-học, vừa có cái phong-thú tiêu-dao của Trang Lão, lấy lẽ phải ông Khổng mà chế lại sự thần-bí của nhà chùa, sự khoáng-dật của hai họ. Nhưng mà ngay trong văn-chương nước Pháp tưởng cũng không có sách nào giống hẳn như truyện Kiều, vì truyện Kiều có một cái đặc-sắc mà những nền kiệt-tác trong văn-chương Pháp không có. Đặc-sắc ấy là sự « phổ-thông ». Phàm đại-văn-chương, không những ở nước Pháp, ở nước nào cũng vậy, chỉ có những người thượng-lưu học-thức mới thưởng-giám được, kẻ bình-dân không biết tới. Người Pháp không phải là ai ai cũng biết đọc kịch Racine hay là đọc văn Bossuet. Người Nam thời ai ai cũng biết ngâm Kiều, kể Kiều, « lẩy » Kiều để ứng-dụng trong sự ngôn-ngữ thường, kẻ thông-minh hiểu cách thâm-trầm, kẻ tầm-thường hiểu cách thô-thiển, nhưng ngâm-nga lên thảy đều lấy làm vui tai, sướng miệng, khoái trí, tỉnh hồn.

Thử hỏi cổ kim Đông Tây đã có một áng văn-chương nào cảm người được sâu và được rộng như thế chưa. Tưởng dễ chỉ có một truyện Kiều ta là có thể tự-cao với thế-giới là văn-chương chung của cả một dân-tộc 18,20 triệu người, già, trẻ, lớn, bé, giỏi, dốt, sang, hèn, đều thuộc lòng và đều biết hay cả.

Như vậy thì truyện Kiều, không những đối với văn-hóa nước nhà, mà đối với văn-học thế-giới cũng chiếm được một địa-vị cao-quí.

Văn-chương ta chỉ có một quyển sách mà sách ấy đủ làm cho ta vẻ-vang với thiên-hạ, tưởng cũng là một cái kỳ-công có một trong cõi văn thế-giới vậy.

Cái kỳ-công ấy lại dũ-kỳ nữa là ngẫu-nhiên mà dựng ra, đột-nhiên mà khởi lên, trước không có người khai đường mở lối, sau không có kẻ nối gót theo chân, đột-ngột giữa trời Nam như cái đồng-trụ để tiêu-biểu tinh-hoa của cả một dân-tộc. Phàm văn-chương các nước, cho được gây nên một nền thi-văn kiệt-tác, phải bao nhiêu nhà thơ, bao nhiêu nhà văn, trong bao nhiêu năm lao-công lục-lực, vun-trồng bón-xới mới thành được. Nay bậc thi-bá nước ta, đem cái thiên-tài ít có trong trời đất, đúc cái khí thiêng bàng-bạc trong non sông, một mình làm nên cái thiên-cổ-kỳ-công đó, dẫu khách thế-giới cũng phải bình-tình mà cảm-phục, huống người nước Nam được trực-tiếp hưởng-thụ cái ơn-huệ ấy lại chẳng nên ghi-tạc trong lòng mà thành-tâm thờ-kính hay sao?

Cuộc kỷ-niệm hôm nay là chủ-ý tỏ lòng quốc-dân sùng-bái cảnh-mộ Cụ Tiên-điền ta; lại có các quí-hội-viên Tây và các quí-quan đến dự cuộc là để chứng-kiến cho tấm lòng thành-thực đó. Nhưng còn có một cái ý-nghĩa nữa, là nhân ngày giỗ này, đốt lò hương, so phím đàn, chiêu hồn quốc-sĩ.

"Thác là thể phách, còn là tinh anh," áng tinh-trung thấp-thoáng dưới bóng đèn, chập-chừng trên ngọn khói, xin chứng-nhận cho lời thề của đồng-nhân đây. Thề rằng: « Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu-sinh xin rầu lòng giốc chí cố gia-công trau-chuốt lấy tiếng quốc-âm nhà, cho quốc-hoa ngày một rực-rỡ, quốc-hồn ngày một tỉnh-tao, quốc-bộ ngày một tấn-tới, quốc-vận ngày một vẻ-vang, ngõ-hầu khỏi phụ cái chi hoài-bão của tiên-sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây! »


P/s

Phạm Quỳnh (chữ Hán: 范瓊; 17 tháng 12 năm 1892 - 6 tháng 9 năm 1945) là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn (Việt Nam). Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt - thay vì chữ Nho hay tiếng Pháp - để viết lý luận, nghiên cứu. Ông có tên hiệu là Thượng Chi (尚之), bút danh: Hoa Đường (華堂), Hồng Nhân.

Nguồn:

Bài diễn thuyết bằng quốc văn của ông Phạm Quỳnh – Wikisource tiếng Việt https://share.google/llbm0GX2AWFHN2faS

Phạm Quỳnh – Wikipedia tiếng Việt https://share.google/Q17vjMTa74W3ZxnOY


Thứ Năm, 26 tháng 2, 2026

Thúc Sinh trong Truyện Kiều – Người Đàn Ông Đa Tình Nhưng Yếu Đuối Đáng Thương

(CỔ & CŨ – kể chậm một mối tình trong Truyện Kiều của Nguyễn Du)


Có những buổi chiều già, tôi mở Truyện Kiều ra đọc lại. Không phải để tìm Kiều – vì Kiều thì ai cũng nhớ – mà để tìm một người đàn ông hay bị quên: Thúc Sinh.

Thúc Sinh - Ảnh tưởng tượng và trợ giúp của công nghệ📷

Thúc Sinh không phải bậc anh hùng. Chàng cũng chẳng phải kẻ ác. Chàng chỉ là… một người đàn ông bình thường. Mà đời, thường chính cái bình thường ấy mới làm ta day dứt lâu nhất.

 Con nhà buôn và một tấm lòng mềm

Thúc Sinh là con nhà buôn ở Lâm Tri. Không quan quyền, không danh gia thế phiệt. Có tiền – nhưng không có thế. Có học – nhưng không có uy.

Chàng gặp Kiều nơi lầu xanh. Người ta đến đó để mua vui. Chàng đến đó rồi… đem lòng thương thật.

Cái thương của Thúc Sinh không ồn ào. Không thề non hẹn biển. Chàng chỉ lặng lẽ chuộc Kiều về, cho nàng một mái nhà, một bữa cơm đàng hoàng, một danh phận tuy nhỏ mà ấm.

Giữa đời Kiều dâu bể, quãng ngày ấy giống như một vệt nắng xiên qua hiên nhà. Không dài, nhưng đủ để người ta nhớ cả đời.

 Yêu thì có – dũng khí thì không

Đời thường trớ trêu ở chỗ: người ta có thể thương rất thật, mà vẫn không đủ sức giữ.

Thúc Sinh yêu Kiều. Điều đó không ai nghi ngờ. Nhưng chàng lại sợ Hoạn Thư. Sợ gia đình. Sợ điều tiếng. Sợ cái uy của lễ giáo.

Đọc đến đoạn Kiều rơi vào tay Hoạn Thư, tôi không giận Thúc Sinh. Tôi chỉ buồn.

Bởi có những người đàn ông, cả đời sống trong chữ “sợ”.

Sợ mất lòng vợ cả.

Sợ điều tiếng họ hàng.

Sợ cái trật tự xã hội đã đóng khung mình.

Thúc Sinh đau, nhưng đau trong im lặng. Chàng thương, nhưng thương trong bất lực.

Cái đau ấy không dữ dội như Từ Hải. Không nham hiểm như Hoạn Thư. Nó hiền. Và chính vì hiền mà nó làm người ta xót.

 Một vệt sáng ngắn ngủi trong đời Kiều

Nếu đời Kiều là một dòng sông nhiều thác ghềnh, thì Thúc Sinh là một khúc nước lặng.

Không cứu được Kiều.

Không bảo vệ được Kiều.

Nhưng đã từng cho nàng biết thế nào là được trân trọng.

Có lẽ vì vậy mà đoạn chia tay giữa hai người buồn đến thế. Cảnh vật cũng như chùng xuống. Mây gió cũng mang nỗi ngậm ngùi.

Người ta thường nhớ những cuộc tình lớn.

Còn tôi, lại nhớ những cuộc tình dang dở.

Vì dang dở mới giống đời.

 Người rất người

Nguyễn Du không nặng lời với Thúc Sinh. Cụ hiểu con người.

Trong xã hội ấy, không chỉ kẻ ác mới làm người ta khổ. Có khi, người hiền mà yếu đuối cũng đủ khiến một đời phụ nữ long đong.

Thúc Sinh là kiểu đàn ông vẫn gặp ngoài đời:

Tốt bụng.

Có tình.

Nhưng thiếu bản lĩnh.

Yêu mà không dám chống lại.

Thương mà không dám bước tới cùng.

Đọc đến đây, tôi chợt tự hỏi:

Trong đời mình, ta đã từng là Kiều?

Hay đã từng là Thúc Sinh?

Lời chậm cuối 

Già rồi, đọc Kiều không còn để trách ai. Chỉ để hiểu rằng con người vốn mong manh trước hoàn cảnh.

Thúc Sinh không xấu. Nhưng sự yếu đuối của chàng vẫn góp phần vào bi kịch.

Đời không chỉ chia trắng – đen.

Có những người đứng ở giữa.

Ở giữa tình yêu và nỗi sợ.

Ở giữa thương và trách nhiệm.

Và ở giữa ấy, nhiều khi… người ta đánh rơi hạnh phúc.


P/S:

Nếu con cháu đọc lại những dòng này, nhớ giùm ông một điều nhỏ:

Thương ai thì thương cho trọn.

Đừng để đến cuối đời mới ngồi giở sách, thở dài vì mình đã từng… không đủ can đảm.

Đọc (Truyện Kiều - phần 6). Kiều gặp Thúc Sinh ở phần Mục Lục. 


Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026

Chiếc radio - Sóng quê nơi xứ lạnh

   Chiếc radio ấy đến với tôi đã gần bốn mươi năm, từ một quãng đời xa xứ ở Cộng hòa Dân chủ Đức. Thời ấy, chúng tôi sống trong những khu nhà tập thể xám màu, mùa đông dài và lạnh, tuyết phủ trắng lối đi. Buổi sáng ra khỏi phòng, hơi thở đã hóa thành khói. Bữa ăn giản dị, mọi sinh hoạt đều có kế hoạch và giờ giấc rõ ràng như kim đồng hồ Đức.

Chiếc radio của tôi 

   Đồng lương không nhiều. Mỗi tháng chi tiêu phải tính rất kỹ: tiền ăn, tiền đi lại, tiền gửi về quê. Muốn mua một món đồ có giá trị thì phải chắt chiu từng đồng. Vì thế, để có được chiếc radio này, tôi đã dành dụm hơn ba tháng lương và mua lại từ một anh lái xe làm việc ở Đại sứ quán Việt Nam. Khi ôm nó về phòng, lòng vui như vừa mang được cả quê hương theo mình.

   Radio xuất xứ Nhật Bản, hai cửa băng – một thứ xa xỉ vào thời ấy. Có hôm tan ca, tôi ngồi lau từng nút bấm, sờ từng đường viền máy, cảm giác như đang giữ một vật quý hiếm hơn cả tiền bạc. Ban ngày đi làm trong xưởng, tối về căn phòng nhỏ, ánh đèn vàng yếu ớt, chiếc radio trở thành người bạn thân thiết nhất.

   Khoảnh khắc chờ đợi nhất là lúc bật máy nghe “Chương trình dành cho đồng bào xa Tổ quốc”. Khoảng 5 hoặc 6 giờ chiều, tùy theo mùa, tôi xoay nhẹ núm sóng, dò cho thật khéo. Có khi sóng yếu, tiếng lúc được lúc mất, vẫn kiên nhẫn nghe. Giọng phát thanh viên vang lên, quen thuộc đến nghẹn lòng. Một bản nhạc quê, một câu chào thân thương, cũng đủ làm mắt cay cay. Giữa xứ người, chỉ cần nghe tiếng Việt là thấy mình chưa hề lạc lõng.

   Chiếc radio không chỉ mang tin tức, mà còn mang nhịp sống. Nó cho tôi biết quê nhà đang mùa mưa hay mùa gặt, biết đất nước đổi thay ra sao, biết mình vẫn thuộc về một nơi rất xa nhưng rất gần trong tim. Có những đêm đông dài, tuyết rơi ngoài cửa sổ, tôi bật radio nhỏ thôi, nghe cho ấm lòng, rồi ngủ lúc nào không hay.

   Thời gian trôi đi. DDR trở thành một cái tên trong sách lịch sử. Người tứ tán mỗi nơi, kỷ niệm gói ghém theo từng chuyến trở về. Vậy mà chiếc radio vẫn theo tôi, qua bao lần chuyển chỗ ở, qua bao đổi thay của đời người.

   Đến hôm nay, nó vẫn hoạt động tốt. Tôi vẫn mở nó mỗi ngày để nghe tin tức, như một thói quen đã ăn sâu vào nếp sống. Dáng máy đã cũ, nút bấm không còn nhạy như xưa, nhưng âm thanh vẫn đều, vẫn thân thiết.

   Chiếc radio ấy không chỉ là vật dụng. Nó là chứng nhân của những ngày tháng xa quê, của đời sống DDR nghiêm cẩn mà cô đơn, của những buổi chiều lặng lẽ nhớ nhà. Với tôi, đó là một báu vật – không phải vì nó hiếm, mà vì nó giữ giùm tôi cả một thời tuổi đời đã đi qua.

Chiếc đài cũ mở nửa đời xa xứ

Một giọng quê hong ấm gió phương trời

DDR tuyết phủ mờ năm tháng

Sóng Việt Nam còn giữ trọn hồn tôi.


P/S 

Nếu sau này các con thấy ông vẫn giữ một chiếc đài cũ kỹ mà không nỡ bỏ đi, thì đừng cười.

Có những thứ người già giữ lại… không phải vì nó còn dùng được, mà vì trong đó còn giữ được mình.

Tôi mua chiếc đài này 1900 mark Đông Đức (hơn ba tháng lương).

Thứ Ba, 24 tháng 2, 2026

Cái Bé – Cuộc gặp muộn qua màn hình nhỏ

Lần đầu gặp em con dì sau gần nửa thế kỷ, qua một cuộc gọi Zalo.

Cuộc gọi Zalo - Ảnh minh họa 

 Gặp mặt sau… gần nửa đời người

Tối mùng 7 tháng Giêng 2026.

Hương Tết còn vương đâu đó trong gió lạnh cuối xuân. Tôi – ở tuổi bảy mươi – lần đầu tiên nhìn thấy mặt cái Bé.

Nó là em con dì tôi, sinh năm 1979.

Là em… mà hôm nay tôi mới biết mặt.

Màn hình Zalo sáng lên. Một người phụ nữ trắng trẻo, khỏe mạnh, nét mặt hiền lành. Nó cười. Tôi cũng cười. Hai anh em nhận nhau bằng vài câu giới thiệu ngắn ngủi nhưng đầy tình cảm.

Ngày tôi đi bộ đội, chưa có nó.

Mãi sau này nghe tin dì Nghĩa sinh thêm một đứa con gái, tôi đã lặng người đi. Không hiểu sao trong lòng bỗng dậy lên nhiều nghĩ ngợi. Dì đã có hai người con trai. Dì lại là vợ liệt sĩ.

Chiến tranh đi qua, nhưng dư âm của nó còn dài hơn một đời người.

 Những thăng trầm lặng lẽ

Cái Bé kể:

Chồng em mất đã 5 năm.

Em có ba đứa con. Đứa gái đầu đã yên bề gia thất. Thằng thứ hai cũng đã có vợ. Đứa út mới 18 tuổi.

Giọng nó bình thản.

Bình thản như người đã quen với sóng gió.

Nó bảo đang làm công ty giày da, cùng Lan – cũng là cháu họ tôi. Cuộc sống không giàu sang nhưng đủ nuôi con, đủ đứng thẳng giữa đời.

Nghe nó kể, tự dưng tôi thương em nhiều.

Thương cả những năm tháng dì và các em từng lặng lẽ sống giữa bao lời xì xào.

Người hiểu thì ít.

Người không hiểu thì nhiều.

Thời ấy, một người vợ liệt sĩ sinh thêm con… không phải ai cũng mở lòng. Mấy mẹ con cứ lặng lẽ mà đi qua năm tháng, có khi mang theo cả mặc cảm.

Nhưng họ không có lỗi.

Không ai có lỗi.

Tất cả là vì chiến tranh.

 Niềm vui muộn

Tôi mừng vì em vẫn giữ được mái nhà, vẫn nuôi con khôn lớn, vẫn cười được qua màn hình nhỏ. Dẫu cuộc đời chưa trọn vẹn, nhưng em đã có một gia đình – và đó là điều đáng quý.

Tôi chỉ biết động viên em cố gắng làm việc, giữ gìn sức khỏe, nuôi con nên người.

Cuộc gặp qua Zalo tưởng nhẹ như gió, mà trong lòng tôi dậy sóng.

Gần nửa thế kỷ mới nhìn thấy mặt em mình.

Chiến tranh chia cắt không chỉ đất nước, mà còn chia cắt cả những lần gặp gỡ tưởng như rất giản đơn.

Lời kết

Tôi mong một ngày gần nhất được gặp em ngoài đời. Không phải qua màn hình, mà là bắt tay thật chặt.

Để nói với em rằng:

Dì và các em không có lỗi gì cả.

Đời người có những khúc quanh do thời cuộc.

Nhưng tình thân – nếu còn giữ được – thì vẫn là điều ấm áp nhất cuối đời.

Màn hình sáng giữa đêm xuân,

Nửa đời mới gặp… người thân họ hàng.

Chiến tranh khép lại mênh mang,

Tình nhà còn đó, dịu dàng nở hoa.


P/s:

Có những cuộc gặp đến muộn. Nhưng muộn còn hơn không. Ở tuổi này, mỗi người thân tìm lại được… là một món quà của trời xuân.

Cái Bé là tên thường gọi ở nhà. Tên khai sinh là Hải. 

Tình cờ gặp cái Bé ở nhà cái Lan.


Thứ Hai, 23 tháng 2, 2026

ANH PHƯƠNG

   Một người anh họ nghèo, ít được đi học nhưng giàu tình nghĩa. Một chiếc giỏ cá tuổi thơ. Và một nén hương lặng cho người đã ngã xuống tháng Hai năm ấy.

Các liệt sĩ họ Hà trong đó có anh Phương 

Anh hơn tôi ở phần gánh nặng

   Anh Phương là anh con ông bác ruột tôi. Gọi là anh, nhưng anh kém tôi đúng một tuổi. Thời ấy, hơn kém nhau một tuổi chẳng nói lên điều gì, chỉ biết ai khỏe thì gánh phần nặng hơn. Và anh Phương là người như thế — lặng lẽ, rắn rỏi, quen đứng mũi chịu sào.

   Nhà nghèo. Nghèo đến mức cái nghèo trở thành nếp sinh hoạt hằng ngày. Anh không được học hết cấp ba mặc dù anh thi đỗ vào cấp 3. Hết cấp hai, anh ở nhà, thay cha mẹ cày cuốc, làm thuê, gánh gồng để nuôi các em nhỏ lớn lên qua từng bữa cơm độn khoai, độn sắn. Tôi được đi học. Anh ở lại với bùn đất, với cái đói đã gọi đúng tên từ lâu.

Chiếc giỏ cá tuổi thơ

   Tuổi thơ hai anh em tôi gắn với những buổi theo dân làng đi đánh dậm cá. Sáng sớm tinh mơ, sương còn vướng trên ngọn cỏ, nước đầm lạnh ngắt, chân trần lội bùn mà lòng thì rộn ràng như đi hội.

   Anh khỏe hơn tôi, tay dậm chắc, lại “sát” cá, nên giỏ lúc nào cũng nặng. Còn giỏ tôi, có hôm nhẹ tênh, cá đếm chưa đủ đầu ngón tay.

   Gần về đến nhà, anh kéo tôi ngồi xuống bờ ruộng. Không nói nhiều, anh mở nắp giỏ mình ra, khom lưng, lựa từng con rồi nhặt sang giỏ tôi cho đến khi đầy đáy. Làm xong, anh cài lại nắp giỏ, phủi tay, cười một cái rất hiền:

    “Thế là đủ rồi.”

   Cá trong giỏ tôi, tôi được ăn. Cá trong giỏ anh, anh lựa những con to mang ra chợ bán, đổi lấy vài bơ gạo. Phần ngon để nuôi nhà, phần thua thiệt anh giữ lấy. Chuyện chia phần ngày ấy giản dị như hơi thở, mà theo tôi suốt cả đời.

Ngày anh đi

   Cuối năm 1978, anh nhập ngũ. Khi đó anh mới cưới vợ được vài tháng. Vì là lao động chính nên anh đi sau tôi ba năm.

   Lúc ấy, tôi cũng đang là bộ đội, không thể trực tiếp tiễn anh nhập ngũ. Ngày anh lên đường, tôi không ở bên. Nhưng trong ký ức, vẫn hiện rõ dáng anh gầy mà thẳng, khuất dần sau con đường làng lấm bụi — giống hệt bao lần anh đi làm sớm về muộn, chỉ khác là lần này, anh đi rất xa.

Tháng Hai không kịp chuẩn bị

   Chiến tranh biên giới nổ ra ngày 17 tháng 2. Mười một ngày sau, ngày 28 tháng 2, anh hy sinh.

   Anh để lại một người vợ trẻ và một đứa con gái chưa kịp nhìn mặt cha. Có những mất mát không kịp chuẩn bị, chỉ kịp đau.

Chiếc giỏ còn ở lại

   Mỗi lần nghĩ về anh, tôi lại thấy hiện lên chiếc giỏ cá năm nào. Vẫn là bàn tay ấy, mở nắp giỏ, san bớt phần may mắn sang cho tôi, để phần thiếu thốn ở lại phía mình.

   Anh đã quen gánh phần nặng từ thuở nhỏ. Và đến cuối cùng, anh vẫn gánh thay cho người khác.

Giỏ cá ngày xưa anh san bớt

Cho tôi đầy đáy bữa cơm nghèo

Phần anh để lại là im lặng

Theo suốt đời tôi, chẳng nói nhiều.


P/s:

   Có những người không để lại nhiều kỷ vật. Chỉ để lại một cách sống. Và suốt đời sau, ta vô thức sống theo — lúc nào không hay.

   Anh hy sinh sau loạt đạn pháo của TQ bắn vào huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu cũ. Phần mộ anh đã được gia đình mang về nằm cùng đồng đội ở Nghĩa Trang Liệt Sĩ quê nhà.

---


PHẦN ANH ĐỂ LẠI

   Có những người ra đi, để lại nhà cửa, ruộng vườn, giấy tờ. Cũng có những người ra đi, chẳng kịp để lại gì cho riêng mình. Nhưng họ để lại một thứ khác — âm thầm hơn, bền hơn.

   Anh Phương của tôi thuộc về loại người thứ hai.

   Anh ra đi khi tuổi còn rất trẻ. Không kịp dặn dò. Không kịp dạy bảo. Không kịp nhìn mặt đứa con gái mình sinh ra. Nếu hỏi anh để lại gì, chắc nhiều người sẽ lắc đầu: không của cải, không một bức ảnh, không kỷ vật đáng gọi tên.

   Nhưng có một “phần” anh để lại, không ai cầm được bằng tay, mà ai cũng có thể mang theo suốt đời.

   Anh để lại thói quen nhường phần hơn. Nhường từ bữa ăn, từ giỏ cá, từ những việc nặng nhọc. Không cần ai chứng kiến, cũng không cần ai ghi công. Nhường như một phản xạ sống.

   Anh để lại cách làm việc mà không kể lể. Làm xong rồi thôi. Không đem ra nhắc lại. Không lấy đó làm điều kiện để được thương nhiều hơn.

   Anh để lại sự im lặng tử tế. Không phải im lặng vì cam chịu, mà im lặng để người khác được yên. Phần ồn ào, anh gánh lấy. Phần nhẹ nhàng, anh nhường đi.

   Sau này, lớn lên, đi qua nhiều va vấp, tôi mới nhận ra mình đã sống theo anh từ lúc nào không hay. Trong những lần nhường người khác một phần thuận lợi. Trong những lúc chọn im lặng thay vì hơn thua. Trong những khi gánh việc khó mà không buồn thanh minh.

   Không ai dạy tôi những điều ấy bằng lời. Tôi học bằng cách nhìn anh sống.

   Chiến tranh lấy đi anh. Thời gian làm mờ dần gương mặt. Nhưng “phần anh để lại” thì ở yên trong tôi, như một thước đo thầm lặng. Mỗi khi đứng trước một lựa chọn khó, tôi lại tự hỏi: nếu là anh, anh sẽ làm thế nào?

   Và lạ thay, câu trả lời thường rất đơn giản.

---

P/s:

   Có những con người không cần hiện diện lâu. Chỉ cần sống đúng. Phần còn lại, họ gửi vào đời sau.


Thứ Bảy, 21 tháng 2, 2026

🐎 MÃ ĐÁO THÀNH CÔNG

Sáng mồng Một, trời còn lơ đãng sương. Ấm trà đặt giữa bàn gỗ cũ, khói bay mỏng như một lời chúc chưa kịp nói thành câu. Người ta hay chúc nhau “mã đáo thành công” – nghe rộn ràng như tiếng vó ngựa đâu đó vọng về từ những năm tháng xa xưa.

Mã đáo thành công!

Hồi còn nhỏ, tôi cứ ngỡ đơn giản: ngựa đến thì thành công. Lớn lên mới hiểu, câu ấy không phải để giục người ta chạy nhanh, mà để mong người ta trở về bình an sau những chuyến đi dài. Thời xưa, ngựa ra trận. Ngựa quay về tức là việc đã xong, người còn đó, cờ còn đó. Thành công, hóa ra trước hết là còn nguyên vẹn để trở lại.

Bây giờ chẳng ai cưỡi ngựa đi xa. Người ta lên máy bay, lên tàu cao tốc. Nhưng lòng người vẫn vậy – mỗi lần con cháu đi làm ăn, thi cử, mở hàng đầu năm… người già lại khẽ nói: “Mã đáo thành công.” Nói vậy thôi, chứ trong lòng chỉ mong: đi cho vững, làm cho ngay, và trở về với nụ cười.

Ngựa chạy nhanh mấy cũng cần biết đường. Thành công lớn mấy cũng cần biết dừng. Tôi ngẫm, “mã đáo” không chỉ là đến đích, mà là đến đúng nơi mình thuộc về.

Chén trà nguội lúc nào không hay. Ngoài sân, nắng đã lên. Tôi tự chúc mình một câu thật nhỏ:

Đi chậm thôi cũng được — miễn là đi bằng đôi chân tỉnh táo.


Chiều muộn hiên xưa khói nhạt hồng,

Ấm trà rót chậm ủ hư không.

Vó cũ bãi xa chìm vết cát,

Bụi xưa lối vắng lẫn tàn phong.


Dặm thẳm năm nào đành gác mộng,

Sân nghèo nay lại được thong dong.

Thành công há chỉ cờ treo ngõ,

Mã đáo — người về — ấm tấm lòng.


🐎 P/s: Nếu một ngày con cháu đọc lại mấy dòng này, nhớ rằng ông bà xưa chúc “mã đáo thành công” không phải để các con chạy đua với thiên hạ, mà để các con biết quý chuyến đi… và quý cả lúc trở về.



Thứ Sáu, 20 tháng 2, 2026

Shipper – Những bánh xe âm thầm của nền kinh tế số

Buổi sáng, một ly cà phê đến tận cửa.

Buổi trưa, suất cơm nóng giao đúng giờ.

Buổi tối, một món quà đặt online vừa kịp sinh nhật.

Xe công nghệ - Ảnh minh họa 

Giữa những tiện nghi tưởng như “hiển nhiên” ấy, có những con người mặc áo đồng phục xanh, đỏ, vàng… lặng lẽ chạy khắp phố phường. Shipper – một nghề từng bị xem là tạm thời – giờ đã trở thành một mắt xích thiết yếu của nền kinh tế số Việt Nam.

Khi một cú nhấp chuột tạo ra cả một chuỗi giá trị

Sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử trên các nền tảng như Shopee, Lazada, Tiki hay TikTok Shop đã thay đổi cách người Việt mua sắm.

Nhưng điều ít người để ý là: phía sau mỗi đơn hàng thành công là một hệ thống vận hành phức tạp, và người hoàn tất khâu cuối cùng – “last mile” – chính là shipper.

Không có họ, thương mại điện tử chỉ dừng lại ở… giỏ hàng ảo.

Trong kinh tế học logistics, giao hàng chặng cuối là khâu tốn kém và khó tối ưu nhất. Chính đội ngũ giao hàng linh hoạt đã giúp các nền tảng giảm chi phí, tăng tốc độ, mở rộng quy mô. Một nghề tưởng nhỏ, nhưng lại giữ vai trò hoàn tất chuỗi giá trị của nền kinh tế số.

Một lực lượng lao động mới của đô thị

Các ứng dụng như Grab, Gojek, ShopeeFood hay Be Group đã mở ra hàng trăm nghìn cơ hội việc làm linh hoạt.

Đây là đặc trưng của “kinh tế nền tảng” – nơi:

* Người lao động có thể tham gia nhanh chóng

* Thời gian làm việc linh hoạt

* Không đòi hỏi bằng cấp cao

* Phù hợp với sinh viên, lao động tự do, người chuyển đổi nghề

Ở góc độ vĩ mô, lực lượng shipper giúp hấp thụ lao động đô thị, tạo thu nhập tức thời và kích thích tiêu dùng. Mỗi cuốc xe, mỗi đơn hàng không chỉ là tiền công cá nhân – mà còn góp phần tạo dòng chảy kinh tế.

Từ “nghề hot” đến hạ tầng thiết yếu

Trong giai đoạn giãn cách vì COVID-19, shipper từng được xem là “mạch máu” của đời sống đô thị. Họ vận chuyển thực phẩm, thuốc men, nhu yếu phẩm khi người dân không thể ra ngoài.

Chính thời điểm ấy cho thấy rõ một điều: shipper không chỉ phục vụ sự tiện nghi, mà còn đảm bảo tính liên tục của xã hội.

Hôm nay, ngay cả khi dịch bệnh đã lùi xa, thói quen tiêu dùng online vẫn ở lại. Đô thị hóa tăng nhanh. Thanh toán không tiền mặt phổ biến. Người trẻ quen với việc đặt mọi thứ qua điện thoại.

Xu hướng này gần như không thể đảo ngược.

Tương lai của những bánh xe công nghệ

Khi chuyển đổi số tăng tốc, shipper sẽ không còn đơn thuần là “người giao hàng”. Họ sẽ:

* Được hỗ trợ bởi AI tối ưu tuyến đường

* Sử dụng phương tiện điện thân thiện môi trường

* Tích hợp sâu hơn vào hệ sinh thái logistics thông minh

Nói cách khác, họ đang trở thành một phần của hạ tầng số quốc gia – dù nhiều khi vẫn bị nhìn như lao động thời vụ.

Một góc nhìn nhân văn

Phía sau mỗi đơn hàng là một con người:

Người cha tranh thủ chạy thêm giờ tối.

Sinh viên kiếm tiền trang trải học phí.

Người lao động chuyển nghề giữa thời kinh tế biến động.

Những bánh xe quay không chỉ vì tốc độ giao hàng, mà còn vì nhịp sống mưu sinh.

Kết

Shipper không chỉ là “nghề hot”. Họ là biểu tượng của một nền kinh tế đang chuyển mình – nơi công nghệ kết nối thị trường, và con người hoàn tất kết nối ấy bằng mồ hôi thực tế.

Nếu không có họ, nhiều hoạt động hàng ngày sẽ khó khăn hơn rất nhiều.

Và khi đô thị hóa, số hóa tiếp tục tăng mạnh, vai trò của họ sẽ không giảm đi – mà ngày càng rõ nét hơn trong cấu trúc vận hành của xã hội hiện đại.


Mưa quất mặt, nắng hong lưng áo,
Phố chen người, còi giục từng giây.
Đèn đỏ chờ, tay ôm thùng nhỏ,
Giữ lời hẹn giữa dòng xe quay.

Một ngõ hẹp, cầu thang bốn gác,
Bước chân nhanh kịp bữa cơm chiều.
Ai mở cửa – nụ cười rất khẽ,
Sau lưng là trăm nẻo liêu xiêu.

P/s
Hiện nay, nhiều nước đã coi lực lượng lao động này như các lực lượng lao động trong những ngành nghề khác: được ký hợp đồng lao động và đóng bảo hiểm.
Còn ở Việt Nam?
---



Thứ Năm, 19 tháng 2, 2026

(Truyện Kiều - Phần 6). Kiều gặp Thúc Sinh


Truyện Kiều - Ảnh Internet 

1275. Khách du bỗng có một người,

Kỳ Tâm họ Thúc cũng nòi thư hương.

Vốn người huyện Tích châu Thường,

Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm tri.

Hoa khôi mộ tiếng Kiều nhi,

1280. Thiếp hồng tìm đến hương khuê gửi vào.

Trướng tô giáp mặt hoa đào,

Vẻ nào chẳng mặn nét nào chăng ưa?

Hải đường mơn mởn cành tơ,

Ngày xuân càng gió càng mưa càng nồng.

1285. Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng,

Đêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng?

Lạ gì thanh khí lẽ hằng,

Một dây một buộc ai giằng cho ra.

Sớm đào tối mận lân la,

1290. Trước còn trăng gió sau ra đá vàng.

Dịp đâu may mắn lạ dường,

Lại vừa gặp khoảng xuân đường lại quê.

Sinh càng một tỉnh mười mê,

Ngày xuân lắm lúc đi về với xuân.

1295. Khi gió gác khi trăng sân,

Bầu tiên chuốc rượu câu thần nối thơ.

Khi hương sớm khi trà trưa,

Bàn vây điểm nước đường tơ họa đàn.

Miệt mài trong cuộc truy hoan,

1300. Càng quen thuộc nết càng dan díu tình.

Lạ cho cái sóng khuynh thành,

Làm cho đổ quán xiêu đình như chơi.

Thúc sinh quen thói bốc rời,

Trăm nghìn đổ một trận cười như không.

1305. Mụ càng tô lục chuốt hồng,

Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê.

Dưới trăng quyên đã gọi hè,

Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông.

Buồng the phải buổi thong dong,

1310. Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa.

Rõ màu trong ngọc trắng ngà!

Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên.

Sinh càng tỏ nét càng khen,

Ngụ tình tay thảo một thiên luật đường.

1315. Nàng rằng: Vâng biết ý chàng.

Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu.

Hay hèn lẽ cũng nối điêu,

Nỗi quê nghĩ một hai điều ngang ngang.

Lòng còn gửi áng mây Vàng

1320. Họa vần xin hãy chịu chàng hôm nay.

Rằng: Sao nói lạ lùng thay!

Cành kia chẳng phải cỗi này mà ra?

Nàng càng ủ đột thu ba,

Đoạn trường lúc ấy nghĩ mà buồn tênh:

1325. Thiếp như hoa đã lìa cành,

Chàng như con bướm lượn vành mà chơi.

Chúa xuân đành đã có nơi,

Vắn ngày thôi chớ dài lời làm chi.

Sinh răng: Từ thuở tương tri,

1330. Tấm riêng riêng những nặng vì nước non.

Trăm năm tính cuộc vuông tròn,

Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông.

Nàng rằng: Muôn đội ơn lòng.

Chút e bên thú bên tòng dễ đâu.

1335. Bình Khang nấn ná bấy lâu,

Yêu hoa yêu được một màu điểm trang.

Rồi ra lạt phấn phai hương,

Lòng kia giữ được thường thường mãi chăng?

Vả trong thềm quế cung trăng,

1340. Chủ trương đành đã chị Hằng ở trong.

Bấy lâu khăng khít dải đồng,

Thêm người người cũng chia lòng riêng tây.

Vẻ chi chút phận bèo mây,

Làm cho bể ái khi đầy khi vơi.

1345. Trăm điều ngang ngửa vì tôi,

Thân sau ai chịu tội trời ấy cho?

Như chàng có vững tay co,

Mười phần cũng đắp điếm cho một vài.

Thế trong dầu lớn hơn ngoài,

1350. Trước hàm sư tử gửi người đằng la.

Cúi đầu luồn xuống mái nhà,

Giấm chua lại tội bằng ba lửa nồng.

Ở trên còn có nhà thông,

Lượng trên trông xuống biết lòng có thương?

1355. Sá chi liễu ngõ hoa tường?

Lầu xanh lại bỏ ra phường lầu xanh.

Lại càng dơ dáng dại hình,

Đành thân phận thiếp ngại danh giá chàng.

Thương sao cho vẹn thì thương.

1360. Tính sao cho vẹn mọi đường xin vâng.

Sinh rằng: Hay nói đè chừng!

Lòng đây lòng đấy chưa từng hay sao?

Đường xa chớ ngại Ngô Lào,

Trăm điều hãy cứ trông vào một ta.

1365. Đã gần chi có điều xa?

Đá vàng đã quyết phong ba cũng liều.

Cùng nhau căn vặn đến điều,

Chỉ non thề bể nặng gieo đến lời.

Nỉ non đêm ngắn tình dài,

1370. Ngoài hiên thỏ đã non đoài ngậm gương.

Mượn điều trúc viện thừa lương,

Rước về hãy tạm giấu nàng một nơi.

Chiến hòa sắp sẵn hai bài,

Cậy tay thầy thợ mượn người dò la.

1375. Bắn tin đến mặt Tú bà,

Thua cơ mụ cũng cầu hòa dám sao.

Rõ ràng của dẫn tay trao,

Hoàn lương một thiếp thân vào cửa công.

Công tư đôi lẽ đều xong,

1380. Gót tiên phút đã thoát vòng trần ai.

Một nhà sum họp trúc mai,

Càng sâu nghĩa bể càng dài tình sông.

Hương càng đượm lửa càng nồng,

Càng sôi vẻ ngọc càng lồng màu sen.

1385. Nửa năm hơi tiếng vừa quen,

Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng.

Giậu thu vừa nảy giò sương,

Gối yên đã thấy xuân đường đến nơi.

Phong lôi nổi trận bời bời,

1390. Nặng lòng e ấp tính bài phân chia.

Quyết ngay biện bạch một bề,

Dạy cho má phấn lại về lầu xanh.

Thấy lời nghiêm huấn rành rành,

Đánh liều sinh mới lấy tình nài kêu.

1395. Rằng: Con biết tội đã nhiều,

Dẫu rằng sấm sét búa rìu cũng cam.

Trót vì tay đã nhúng chàm,

Dại rồi còn biết khôn làm sao đây.

Cùng nhau vả tiếng một ngày,

1400. Ôm cầm ai nỡ dứt dây cho đành.

Lượng trên quyết chẳng thương tình,

Bạc đen thôi có tiếc mình làm chi.

Thấy lời sắt đá tri tri,

Sốt gan ông mới cáo quì cửa công.

1405. Đất bằng nổi sóng đùng đùng,

Phủ đường sai lá phiếu hồng thôi tra.

Cùng nhau theo gót sai nha,

Song song vào trước sân hoa lạy quì.

Trông lên mặt sắt đen sì,

1410. Lập nghiêm trước đã ra uy nặng lời:

Gã kia dại nết chơi bời,

Mà con người thế là người đong đưa.

Tuồng chi hoa thải hương thừa,

Mượn màu son phấn đánh lừa con đen.

1415. Suy trong tình trạng nguyên đơn,

Bề nào thì cũng chưa yên bề nào.

Phép công chiếu án luận vào.

Có hai đường ấy muốn sao mặc mình.

Một là cứ phép gia hình,

1420. Một là lại cứ lầu xanh phó về.

Nàng rằng: đã quyết một bề!

Nhện này vương lấy tơ kia mấy lần.

Đục trong thân cũng là thân.

Yếu thơ vâng chịu trước sân lôi đình!

1425. Dạy rằng: Cứ phép gia hình!

Ba cây chập lại một cành mẫu đơn.

Phận đành chi dám kêu oan,

Đào hoen quẹn má liễu tan tác mày.

Một sân lầm cát đã đầy,

1430. Gương lờ nước thủy mai gầy vóc xương.

Nghĩ tình chàng Thúc mà thương,

Nẻo xa trông thấy lòng càng xót xa.

Khóc rằng: Oan khốc vì ta!

Có nghe lời trước chẳng đà lụy sau.

1435. Cạn lòng chẳng biết nghĩ sâu.

Để ai trăng tủi hoa sầu vì ai.

Phủ đường nghe thoảng vào tai,

Động lòng lại gạn đến lời riêng tây.

Sụt sùi chàng mới thưa ngay,

1440. Đầu đuôi kể lại sự ngày cầu thân:

Nàng đà tính hết xa gần,

Từ xưa nàng đã biết thân có rày.

Tại tôi hứng lấy một tay,

Để nàng cho đến nỗi này vì tôi.

1445. Nghe lời nói cũng thương lời,

Dẹp uy mới dạy cho bài giải vi.

Rằng: Như hẳn có thế thì

Trăng hoa song cũng thị phi biết điều.

Sinh rằng: Chút phận bọt bèo,

1450. Theo đòi vả cũng ít nhiều bút nghiên.

Cười rằng: đã thế thì nên!

Mộc già hãy thử một thiên trình nghề.

Nàng vâng cất bút tay đề,

Tiên hoa trình trước án phê xem tường.

1455. Khen rằng: Giá đáng Thịnh đường!

Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân!

Thật là tài tử giai nhân,

Châu Trần còn có Châu Trần nào hơn?

Thôi đừng rước dữ cưu hờn,

1460. Làm chi lỡ nhịp cho đờn ngang cung.

Đã đưa đến trước cửa công,

Ngoài thì là lý song trong là tình.

Dâu con trong đạo gia đình,

Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong.

1465. Kíp truyền sắm sửa lễ công,

Kiệu hoa cất gió đuốc hồng điểm sao.

Bày hàng cổ xúy xôn xao,

Song song đưa tới trướng đào sánh đôi.

Thương vì hạnh trọng vì tài,

1470. Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba.

Huệ lan sực nức một nhà,

Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa.

(Còn nữa)

...

   

   

Thứ Tư, 18 tháng 2, 2026

Nhân năm Bính Ngọ, nói chuyện về ngựa phi nước kiệu, ngựa phi nước đại

Từ hình ảnh con ngựa trong ca dao, văn học cổ và Truyện Kiều, suy ngẫm về nhịp đi của con người và xã hội giữa tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững.

Cưỡi ngựa - Ảnh minh họa

Ngựa trong văn hóa phương Đông

Trong văn hóa phương Đông, ngựa không chỉ là phương tiện đi lại hay công cụ chiến tranh, mà còn là biểu tượng của tốc độ, chí khí và số phận. Nhân năm Bính Ngọ, nói chuyện về “ngựa phi nước kiệu” và “ngựa phi nước đại” cũng là dịp nhìn lại cách con người từ xưa đến nay đã hình dung về nhịp đi của đời sống: lúc khoan thai, lúc gấp gáp, lúc cần ghìm cương, lúc phải thúc roi.

Trong ca dao, hình ảnh con ngựa thường gắn với đường xa, với phận người và sự bền bỉ. “Ngựa quen đường cũ” không chỉ nói về thói quen, mà còn hàm ý sự ổn định, sự an toàn của những lối đi đã được thử thách. Dáng ngựa đi nước kiệu – đều, chắc, không phô trương – gần với tinh thần dân gian ấy: làm ăn chậm mà chắc, sống thuận tự nhiên, liệu cơm gắp mắm. Đó là triết lý tồn tại của một xã hội nông nghiệp, nơi con người hiểu rằng đi quá nhanh thường phải trả giá.

Ngựa trong văn học

Trong văn học trung đại, ngựa lại mang sắc thái của biến động và đổi thay. Mỗi lần ngựa hí, vó câu dồn dập, thường là báo hiệu một bước ngoặt số phận. Truyện Kiều của Nguyễn Du là một ví dụ điển hình. Con ngựa trong Kiều không chỉ chở con người đi qua không gian, mà còn kéo họ trượt dài trong định mệnh. Kiều theo Mã Giám Sinh “lần bước theo nhau”, vó ngựa ấy không phi nước đại, nhưng cũng không còn nước kiệu bình yên; đó là nhịp đi lửng lơ, nửa cưỡng ép, nửa mù mờ, mở ra một chuỗi đoạn trường.

Ở những đoạn khác, hình ảnh “yên ngựa”, “cương xe” trong Kiều luôn gắn với quyền lực của kẻ cầm cương và sự bị động của người bị chở đi. Người không cầm cương thì dù ngựa có phi nhanh đến đâu, đích đến cũng không thuộc về mình. Đó là một ẩn dụ sâu sắc: tốc độ không quyết định hạnh phúc, mà là quyền làm chủ hướng đi.

Ngựa trong đời sống hôm nay

Trở lại với đời sống hôm nay, “ngựa phi nước đại” gợi nhớ những giai đoạn phát triển nóng, nơi xã hội bị cuốn theo nhịp tăng trưởng dồn dập, đôi khi chưa kịp chuẩn bị về thể chế, văn hóa và môi trường. Còn “ngựa phi nước kiệu” gần với tinh thần phương Đông truyền thống: biết dừng, biết chậm, biết giữ sức cho đường dài. Điều đáng nói là, trong một thế giới hiện đại, không thể chỉ đi nước kiệu, nhưng cũng không thể mãi phi nước đại.

Cái khó – và cũng là cái khôn – của con người hiện đại là học cách đổi nhịp. Khi cần bứt phá thì cho ngựa phi nhanh, nhưng khi đường gập ghềnh, khi sức đã hao, phải biết ghìm cương, trở về nước kiệu. Văn hóa dân gian và văn học cổ, từ ca dao đến Truyện Kiều, rốt cuộc đều gặp nhau ở một lời nhắc nhở giản dị: ai đi quá nhanh thường không kịp nhìn thấy mình đang đi về đâu.

Với Việt Nam hôm nay, câu chuyện ngựa phi càng trở nên thời sự. Bài toán đặt ra không chỉ là tăng trưởng bao nhiêu phần trăm, mà là tăng trưởng theo cách nào: làm sao để vừa đi nhanh, vừa không kiệt sức; vừa phát triển, vừa không đánh đổi môi trường và chất lượng sống của các thế hệ tương lai. Có lẽ, khôn ngoan nhất là biết khi nào cho ngựa phi nước đại, và khi nào để nó trở về nước kiệu.

Ngựa quen nước kiệu đường dài,

Chậm mà bền chí, chẳng hoài sức chân.

Nước đại phút chốc vang sân,

Qua dốc mới biết mấy lần hụt hơi.


P/s

Trong văn chương xưa, bi kịch không nằm ở con ngựa chạy nhanh hay chậm, mà ở chỗ người ngồi trên yên có biết mình đang đi đâu hay không.

https://youtu.be/5dkNDN9_BNo?feature=shared

(Kích đúp vào đường dẫn để xem)

---



Thứ Hai, 16 tháng 2, 2026

Biết Dùng AI – Chuyện Thời Nay Kể Chậm

Một ông già ngồi bên hiên nhà nhìn thời đại trí tuệ nhân tạo trôi qua trước mặt. Biết dùng AI hay không – rốt cuộc không chỉ là chuyện công nghệ, mà là chuyện cách nghĩ và cách sống.

Trí tuệ nhân tạo - Ảnh minh họa 

Ngồi bên hiên mà nghe thời đại thở

Chiều nay gió nhẹ. Ấm trà còn bốc khói.

Ngoài ngõ, lũ trẻ nói chuyện với… cái điện thoại. Chúng hỏi, máy trả lời. Nhanh như chớp.

Tôi ngồi nghĩ: thời mình trẻ, hỏi một điều phải lật sách, phải dò hỏi người đi trước. Nay, một câu hỏi – cả kho tri thức mở ra.

Người ta gọi đó là trí tuệ nhân tạo – AI.

Nghe to tát vậy thôi.

Thực ra, nó giống như có thêm một người thư ký không biết mệt.

Biết dùng hay không – khác ở chỗ nào?

Người biết dùng AI:

Họ giao cho máy việc lặt vặt. Việc tính toán, tra cứu, soạn thảo.

Họ giữ lại cho mình việc nghĩ, việc chọn, việc quyết.

Người không dùng AI:

Vẫn làm được. Vẫn tốt.

Chỉ là mọi thứ chậm hơn một nhịp.

Giống như hai người cùng cày ruộng.

Một người có máy cày.

Một người dắt trâu.

Không ai sai.

Chỉ khác ở sức lực và thời gian.

Nhưng điều đáng lo không nằm ở cái máy

Tôi để ý một điều.

Có người dùng AI rất rành.

Nhưng hỏi sâu thì… trống.

Vì cái máy nghĩ hộ quen rồi.

Biết dùng AI mà không biết tự nghĩ – Thì chẳng khác gì có đèn sáng mà không có mắt.

Còn người không dùng AI, nếu vẫn chịu học, chịu đọc, chịu hỏi – Họ chậm, nhưng vững.

Điều còn lại

Rồi tôi chợt hiểu:

AI không thay thế con người.

Nó chỉ thay thế cách làm cũ.

Cái quyết định tương lai không phải là “có dùng AI hay không”.

Mà là: mình có chịu thay đổi không.

Thời nào cũng vậy.

Ai đứng yên – người đó tụt lại.


Thời nay gió mạng thổi ào,

Hỏi một câu nhỏ – sóng trào mênh mang.

Có thêm máy, chớ vội vàng,

Giữ đầu cho tỉnh – giữ lòng cho trong.


P/S

Tôi viết những dòng này không để khuyên ai phải chạy theo thời đại.

Chỉ mong con cháu sau này đọc lại mà hiểu:

Ông bà không sợ cái mới.

Chỉ sợ mình già đi mà thôi không chịu học nữa.


Chủ Nhật, 15 tháng 2, 2026

Một ngày rời chốt trước giờ nổ súng

Tác giả: Đinh Hồng Pha 

CCB Công Binh QK2


Ngày 14/2/1979 - cách nay 47 năm, tôi cùng c2/d6/e192 đóng quân tại khu vực cuối xã Quang Kim, huyện Bát Xát, tỉnh Hoàng Liên Sơn. Chốt của chúng tôi nằm sát sông Hồng, bên kia là lãnh thổ Trung Quốc.

Hầm quân sự- Ảnh minh họa 

Nhiệm vụ hôm ấy là lắp ghép công sự bê tông thanh. Phía đối diện, địch thỉnh thoảng bắn đại liên 12,7 ly sang, đạn vạch trời khô khốc nhưng chưa thật sự dữ dội. Khi một công sự vừa hoàn thành, anh em đều phấn khởi – bê tông vững, chốt có chỗ trú an tâm hơn.

Chiều hôm đó, tôi nhận được điện báo:

 “Báo đồng chí Pha khi xong nhiệm vụ về thẳng Thậm Thình.”

 Ký tên: Huỳnh Sương.

Ngày 15/2, tôi báo cáo với đại đội trưởng Nguyễn Xuân Kim (Anh Kim người Kinh Môn - Hải Dương) rằng sáng 16/2 sẽ rút về. Anh Kim có vẻ ái ngại. Từ hôm chúng tôi lên chốt đến giờ, chưa có gì gọi là thiết đãi. Anh nói nhỏ:

– Sáng mai để tôi kiếm ít thịt chó, anh em ngồi với nhau bữa cuối cho khí thế vui vẻ.

Tôi gật đầu.

Sáng 16/2, tôi vẫn leo lên chốt như thường lệ. Đến khoảng mười giờ thì quay xuống doanh trại. Anh Kim báo tin: cả khu vực không ai bán gì, bữa ăn vẫn chỉ có cơm, rau cải bắp luộc và cá khô. Đó cũng là bữa cuối cùng tôi ăn cùng anh em.

Buổi trưa, tôi chia tay đại đội, về Kim Tân Thị Xã Lào Cai, nơi Sở chỉ huy phía trước tỉnh Hoàng Liên Sơn đóng quân.

Đêm pháo cối và một bước ranh sinh tử

Đêm 16 rạng sáng 17/2/1979, quân Trung Quốc bắt đầu tiến công trên toàn tuyến. Riêng khu vực Quang Kim, có một mũi đánh thẳng vào chốt mà chỉ vài giờ trước tôi còn ở đó.

Những quả cối 82 ly đầu tiên rơi xuống doanh trại từ khoảng 2 giờ sáng, chứ không phải đợi đến 5 giờ mới bắn đồng loạt. Doanh trại nằm ngay chân chốt – đạn bắn thẳng không tới, nhưng cối thì vừa tầm, không tránh được.

Tôi nằm ở Sở chỉ huy tỉnh mà nghĩ thắt ruột:

Nếu sáng 17/2 mới về… nếu tối ấy vẫn ngủ ở doanh trại… thì chưa biết số phận mình sẽ ra sao.

Người ở lại

Ngày 17/2, chiến sự tại đây diễn ra ác liệt ngay từ đêm. Đại đội trưởng Nguyễn Xuân Kim, khi ấy là thượng sĩ, quyền đại đội trưởng, đã chiến đấu anh dũng và hy sinh ngay trong ngày đầu. Sau này, anh được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Trong bụng anh em lúc đó chỉ có cá khô và rau cải bắp luộc từ bữa trưa hôm trước. Không ai biết sáng 17/2, giữa làn pháo cối dồn dập, anh nuôi có kịp nấu nổi nồi cơm nào hay không.

Chiếc xe bên kia sông

Vài ngày trước khi rút về, từ trên chốt tôi từng nhìn sang phía Trung Quốc, ngay đối diện vị trí đóng quân. Ở đó có một xe tải thùng, gắn một cần vươn dài như cần khoan, đứng im suốt mấy ngày liền. Chung quanh xe là vài người mặc áo xanh công nhân, đi lại lặng lẽ.

Ngày nào lên chốt tôi cũng quan sát, nhưng không phát hiện được điều gì cụ thể. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn không thôi băn khoăn:

Liệu chiếc xe ấy có liên quan đến một bến vượt sông đã được chuẩn bị sẵn cho cuộc tiến công hay không?

Hồi ức khép lại

Có những ranh giới trong chiến tranh mỏng hơn sợi tóc. Một mệnh lệnh về sớm, một bữa cơm cá khô, một đêm rời chốt trước giờ nổ súng – tất cả, nhìn lại, đều mang hình dáng của số phận.


P/s

Sắp đến ngày 17/2, lòng người trong cuộc khó tránh khỏi xao động. Không phải để khơi lại hận thù. Chỉ để nhớ rằng có những đồng đội đã ở lại bên dòng sông ấy – để người khác được trở về.


https://youtu.be/hgE60PD1ECQ?si=t04N9omZbB_WH_bt

(Kích đúp vào đường dẫn để mở và nghe).

Thứ Bảy, 14 tháng 2, 2026

Váy áo vẫn đây

Một câu chuyện làng quê về tình yêu tuổi xế chiều, nơi váy áo còn treo mà người đã rời đi. Bi hài, chậm rãi, và rất đời.

Bộ váy áo  - Ảnh minh họa 

Bà Hòa và những năm tháng khổ cực

Không ai nhớ rõ bà Hòa quê ở đâu. Làng chỉ nhớ một điều: đi đâu bà cũng dắt theo cô con gái nhỏ, như cái bóng, như bùa hộ mệnh. Người đàn bà từng khổ lâu năm thường thế — phải nắm chặt một thứ gì đó, kẻo đời tuột khỏi tay lúc nào không hay.

Ngày ấy bà Hòa khổ thật. Khổ kiểu cơm chan nước mắt, canh mặn vì lo toan, tiền nong thì mỏng như lá lúa cuối vụ. Áo cũ, người gầy, tiếng thở dài nhiều hơn tiếng cười.

Cuộc gặp gỡ với ông Tứ Yên

Ông Tứ Yên góa vợ đã lâu. Con cái yên bề gia thất, mỗi đứa một phương. Nhà ông rộng, vườn um tùm lâm lộc — cây gì cũng có, hái ra là đổi được gạo. Ông hơn bà Hòa nhiều tuổi, nhưng lạ thay, ngồi với nhau lại hợp. Ông cần người nhóm bếp, bà cần chỗ nương thân. Vậy là bà dọn về.

Từ đó, bà Hòa như trẻ lại. Không phải trẻ vì phấn son, mà trẻ vì được sống tử tế. Áo quần không còn vá chằng vá đụp. Sáng hái trái cây, chiều mang ra chợ. Tiền không nhiều, nhưng không còn trống rỗng. Tối đến, hai người già ngồi trước hiên, ông Tứ Yên kể chuyện cũ, bà cười khẽ. Tiếng cười không to, nhưng đủ ấm cho một buổi chiều muộn.

Dân làng nhìn vào, ai cũng gật gù:

“Thôi, người ta già rồi, có nhau cho đỡ quạnh.”

Sự xuất hiện của ông Phương Khoan

Nhưng đời vốn không thích đứng yên.

Ông Phương Khoan xuất hiện. Thợ xây trong làng, hơn bà Hòa chục tuổi. Tay nghề khéo, miệng lưỡi còn khéo hơn. Ông không có vườn lâm lộc, chỉ có mấy thanh kẹo lạc rẻ tiền, nhưng lại biết mang đi đúng lúc. Tối tối, sau bữa cơm, ông ghé qua, gọi bà Hòa ra bờ ao hay góc vườn “nói chuyện”.

Nói chuyện gì mà tối nào cũng nói. Dân làng nhìn là hiểu. Kẹo lạc khi ấy không chỉ là kẹo. Nó là cảm giác được để ý, được lựa chọn, được làm đàn bà lần nữa. Và thế là bà Hòa đi.

Không ầm ĩ. Không nước mắt trước mặt ai. Bà rời ông Tứ Yên như rời một mái nhà cũ — biết ơn, nhưng không quay đầu lại.

Cuộc sống mới

Ông Phương Khoan còn cất công xây nhà cho mẹ con bà ngay trong làng. Vài năm sau, ông dứt hẳn với vợ cũ, về sống với bà Hòa. Dân làng lại xì xào, nửa cười nửa ngán:

“Tình yêu tuổi già, tưởng nguội mà hóa ra vẫn cháy âm ỉ.”

Ông Tứ Yên ở lại

Còn ông Tứ Yên thì lặng đi. Một hôm dọn nhà, ông thấy bộ váy áo cũ của bà Hòa vẫn treo nguyên trên móc. Ông cầm lên, vuốt vuốt, đứng rất lâu. Váy áo không nói gì. Nhà cửa không nói gì. Chỉ có ông thở dài, buông một câu nghe vừa buồn vừa buốt:

“Ối giời ơi… váy áo vẫn đây mà người ở đâu!”

Có những cuộc chia tay không cần lời giải thích. Chỉ cần một móc áo không có người. Và một người ở lại, học cách già đi cùng ký ức.

Váy áo còn treo giữ gió chiều

Người đi để lại một câu yêu.

Tuổi già đâu dám mơ cho đủ

Chỉ ước bên hiên bớt quạnh hiu.


P/S:

Ở tuổi này, người ta không cần yêu cho rực rỡ. Chỉ cần có một người ngồi cùng lúc chiều xuống, để váy áo không phải treo chờ, và ký ức… có chỗ mà đặt xuống.

Ở quê tôi gọi ông Tứ Yên có nghĩa là ông Yên có người con đầu lòng tên là Tứ.

Thanh niên trong làng hay đùa với nhau: Bây giờ đi tán gái chỉ cần vài thanh kẹo lạc.😄

https://youtu.be/kFQx7Vb_fCg?si=bTHXrHQ8xFUZ38sA

(Kích đúp vào đường dẫn để nghe)


Thứ Sáu, 13 tháng 2, 2026

Sở Khanh Trong Truyện Kiều

   Nhân vật Sở Khanh trong Truyện Kiều của Nguyễn Du là biểu tượng cho sự giả trá và phản trắc trong tình yêu. Hắn là kẻ miệng ngọt lòng gian, đại diện cho một xã hội suy đồi nơi lòng tin bị đem ra mua bán.

Sở Khanh - Do tưởng tượng và trợ giúp của công nghệ📷

Cái tên nghe đã thấy gian

   Có những gương mặt chỉ thoáng qua thôi cũng khiến ta lạnh gáy. Trong Truyện Kiều, Sở Khanh là một cái tên như thế — không cần Nguyễn Du tả nhiều, chỉ nhắc đến thôi đã nghe thấy mùi gian trá. Người đời từ đó vẫn rỉ tai nhau câu “Đừng tin lời Sở Khanh”, như một lời cảnh báo truyền đời cho những kẻ nhẹ dạ.

Khi lòng tin gặp dối trá

 Cuộc gặp định mệnh với Thúy Kiều

   Giữa chốn phồn hoa giả trá, Kiều — người con gái tài sắc mà bạc mệnh — đã gặp hắn. Sở Khanh xuất hiện như một “cứu tinh”: nói năng dịu dàng, ánh mắt tưởng chừng cảm thông, hứa đưa nàng thoát khỏi chốn lầu xanh.

   Nhưng trong mỗi câu chữ ngọt ngào ấy lại giấu một cái bẫy, giăng bằng sợi tơ mỏng của lòng tin.

 Bộ mặt thật của kẻ lừa lọc

   Nguyễn Du không vẽ Sở Khanh bằng ngoại hình, mà bằng hành động. Hắn chỉ hiện ra trong chốc lát, nhưng đủ để người đời khắc ghi: kẻ giả nhân giả nghĩa, nói thương mà không thật lòng.

   Khi Kiều tin theo, hắn lập tức dắt nàng vào đường cùng, để Tú Bà bắt lại. Và thế là, một niềm hy vọng mong manh lại tan vỡ.

 Một sản phẩm của thời thế

   Sở Khanh không chỉ là kẻ ác đơn lẻ. Hắn là bóng dáng của cả một xã hội suy đồi, nơi đồng tiền làm mờ nhân tính, nơi “nghề lừa người” trở thành kế sinh nhai.

   Nguyễn Du vẽ nên hắn bằng giọng điềm tĩnh, không cần phẫn nộ, mà khiến người đọc càng thấy lạnh.

 Bài học của muôn đời

   Thúy Kiều đáng thương, nhưng trong cái thương ấy có bài học đắt giá: tin nhầm người đôi khi còn đau hơn bị phản bội.

   Từ đó, “Sở Khanh” trở thành danh xưng cho những kẻ miệng ngọt mà lòng gian, tồn tại suốt bao đời trong mọi hình dạng.

   Ngày nay, họ không còn mặc áo the khăn đóng, mà khoác sơ mi, xịt nước hoa, nói lời tử tế qua màn hình điện thoại.

   Nhưng bản chất vẫn thế – một nụ cười, một lời hứa, và một trái tim không thật.

Lời vàng rơi giữa môi son,

Mà trong mắt đục vẫn còn nỗi gian.

Một câu ngọt, vạn niềm tan,

Cười như trăng khuyết giữa ngàn giả chân.

Sở Khanh – tiếng gọi muôn phần,

Nghe như chuyện cũ mà gần hôm nay.


P/s:

 Ở mỗi thời, ta đều phải học lại bài học cũ — nhìn xuyên qua nụ cười, vì không phải nụ cười nào cũng ấm, và chẳng phải lời ngọt nào cũng thật lòng.

---



Thứ Tư, 11 tháng 2, 2026

Chiến trường Vị Xuyên 1984–1989: pháo binh và “Lò vôi thế kỷ”

 Bài viết có sử dụng tư liệu của các anh Mr Thọ; Đinh Hồng Pha; Nguyễn Huy Bồng CCB Công binh QK2. Xin được cám ơn các anh!


Vị Xuyên không phải là một mặt trận ồn ào trên bản đồ chiến tranh, nhưng lại là nơi núi đá phải gánh chịu mật độ hỏa lực thuộc loại khủng khiếp nhất trong lịch sử bảo vệ biên giới phía Bắc.

Pháo binh ở Vị Xuyên (Ảnh minh họa)

Pháo binh Việt Nam 

Từ tháng 6/1984, pháo binh Việt Nam được bố trí dày đặc với các đơn vị chủ lực như Lữ pháo binh 168 (Quân khu 2), Lữ pháo binh 368 (Bộ Tư lệnh Pháo binh), cùng nhiều đơn vị tăng cường cấp tiểu đoàn, đại đội. Đặc biệt, 8 khẩu pháo bắn thẳng – gồm pháo 85 mm, 76,2 mm và cao xạ 37 mm – được đặt tại các vị trí then chốt như Cốc Nghè, Nậm Tẩm, Lao Chải, khu vực dông 673–812. Những khẩu pháo này không bắn cầu vồng, mà nhìn thẳng vào điểm cao, nghiền nát công sự đối phương bằng hỏa lực trực diện.

Pháo binh TQ 

Phía bên kia, quân TQ cũng huy động nhiều đơn vị pháo binh từ các Đại quân khu như: Phúc Châu, Nam Kinh, Tế Nam, Lan Châu, Bắc Kinh. Pháo của họ bắn liên tục, dồn dập, biến các sườn núi, khe đá và đường cơ động của ta thành những vùng chết kéo dài suốt nhiều năm.

Những điểm cao ám ảnh 

Các điểm cao 300, 400, 685, 772, 233 trở thành những cái tên ám ảnh. Đá núi bị pháo bào mòn, vỡ vụn, phủ trắng sườn đồi như vôi tôi. Từ đó, người lính gọi nơi này bằng một cái tên lạnh người: “Lò vôi thế kỷ” – không phải vì đá hóa vôi, mà vì sức công phá đủ để nghiền cả núi non thành bột trắng.

Thế trận giằng co

Suốt 5 năm giằng co, nhiều điểm cao rơi vào tay đối phương, nhưng họ phải hứng chịu hỏa lực pháo binh dữ dội của ta. Ngược lại, bộ đội Việt Nam cũng chịu những tổn thất vô cùng nặng nề. Đỉnh điểm là ngày 12/7/1984, khi Sư đoàn 356 bị pháo bắn thẳng vào đội hình hành quân – một trong những ngày đẫm máu nhất của chiến trường Vị Xuyên.

Ý nghĩa lịch sử 

“Lò vôi thế kỷ” vì thế không chỉ là dấu vết của pháo binh trên đá núi, mà còn là ký ức bi tráng của một thế hệ người lính. Ở đó có sự hy sinh lặng lẽ, có những mất mát không đo đếm được, và có một sự thật khắc nghiệt: biên giới phía Bắc đã được giữ bằng máu, bằng xương, và bằng cả những dãy núi bị nghiền trắng theo năm tháng.

Đá núi thành vôi trắng núi rừng,

Pháo gầm xé nát mấy tầng sương.

Máu xương hóa đá nơi biên ải,

Vị Xuyên còn đó nỗi đau trường.


P/s:

   Vị Xuyên không chỉ là một địa danh, mà là nơi lịch sử được viết bằng đá núi, khói pháo và sinh mệnh con người. Nhắc lại để nhớ, để tri ân, và để không bao giờ quên.



Thứ Ba, 10 tháng 2, 2026

Trống Đồng Đông Sơn – Tiếng Vang Từ Thuở Hồng Hoang

Trống đồng Đông Sơn không chỉ là một cổ vật bằng đồng, mà là tiếng nói trầm hùng của tổ tiên, lưu giữ nhịp sống, niềm tin và khát vọng trường tồn của người Việt cổ.

Trống đồng Đông Sơn - Ảnh minh họa

Khi đồng còn biết nói

Từ thuở đất còn khai mở, con người còn sống dựa vào trời đất và sông nước, người Việt cổ đã biết đúc đồng, làm trống, gửi vào đó linh hồn của cộng đồng. Trống đồng Đông Sơn ra đời trong bối cảnh ấy — không ồn ào, không khoa trương, nhưng vang vọng lâu dài như tiếng gọi từ cội nguồn.

Mặt trống tròn như mặt trời, tâm trống là ngôi sao nhiều cánh — hình ảnh thiêng liêng nhất của vũ trụ quan nông nghiệp. Chung quanh là những vòng hoa văn xoay đều, nhịp nhàng, tựa như thời gian không ngừng trôi mà không mất dấu.

Hoa văn – đời sống được khắc vào kim loại

Nhìn vào mặt trống, ta không chỉ thấy nghệ thuật, mà thấy đời sống đang chuyển động.

Người múa trong lễ hội, tay dang rộng, chân nhịp nhàng — đó là tinh thần cộng đồng.

Người đánh trống, người thổi khèn, người chèo thuyền — đó là sinh hoạt chung, là làng, là nước.

Thuyền dài lướt sóng, chim bay trên cao — đó là khát vọng chinh phục và hòa hợp với thiên nhiên.

Không một nét thừa. Không một hình ảnh cô độc.

Tất cả đều đặt trong chỉnh thể cộng đồng, nơi con người sống cùng nhau, tin vào nhau, và dựa vào nhau để tồn tại.

Trống đồng – quyền lực và thiêng liêng

Trống đồng không dành cho mọi người. Nó thuộc về thủ lĩnh, về nghi lễ lớn, về những thời khắc trọng đại của bộ lạc.

Khi trống vang lên là gọi người tụ hội.

Khi trống dồn dập là hiệu lệnh xuất quân.

Khi trống ngân dài là lời cầu khấn tổ tiên.

Bởi vậy, trống đồng vừa là vũ khí tinh thần, vừa là biểu tượng quyền lực, lại vừa là vật linh kết nối trời – đất – người.

Khát vọng trường tồn của người Việt cổ

Đồng là kim loại bền. Nhưng thứ khiến trống đồng sống lâu hơn chính là ý nghĩa.

Qua nghìn năm, trống không còn được đánh, nhưng vẫn được gìn giữ. Không còn dùng để ra lệnh, nhưng vẫn khiến người sau cúi đầu kính cẩn. Từ bảo tàng đến biểu tượng quốc gia, từ nghiên cứu khảo cổ đến mỹ thuật hiện đại, trống đồng Đông Sơn vẫn hiện diện — lặng lẽ mà bền bỉ.

Nó nói với ta rằng:

Người Việt đã từng sống có cộng đồng, có tín ngưỡng, có nghệ thuật, có ý thức về cội nguồn — từ rất sớm.

Đồng xưa gõ nhịp thời gian,

Vang trong đất Việt, vọng ngàn núi sông.

Mặt tròn giữ một vầng hồng,

Ngàn năm trống cũ vẫn không lặng lời.

Bề mặt trống - Ảnh minh họa


P/s:

Có những cổ vật không cần giải thích nhiều. Chỉ cần đứng trước nó đủ lâu, ta sẽ nghe được tiếng của tổ tiên — không phải bằng tai, mà bằng ký ức sâu trong máu mình.

Cổ và Cũ - Du Hà Ngọc

---

Báo Anh nói về việc Việt Nam xây sân vận động gấp đôi Old Trafford | Báo Dân trí https://share.google/BA405S60svvgcYLFN


(Kích đúp vào đường dẫn để xem thêm)

Thứ Hai, 9 tháng 2, 2026

Ông Cao Phong và cuộn băng không kịp tắt

Một cuộn băng lạc lõng giữa thời bao cấp, một ông già nghiêm khắc mà cũng rất… người, và một câu chào để đời. Chuyện nhỏ, cười khẽ, nhưng gợi lại cả một thời làng quê vừa nghèo vừa ngây thơ.

Đầu video VHS - Ảnh minh họa

  Ngôi nhà có chiếc đầu video

Ông Cao Phong đã ngoài bảy mươi. Bà nhà mất sớm, căn nhà ba gian lợp ngói cũ chỉ còn hai người nương tựa: ông và đứa con út tên Quy. Quy lớn tuổi mà chưa lập gia đình, quanh năm đi làm thuê, tối về lại ngồi với cha già bên chiếc bàn gỗ đã sẫm màu thời gian.

Đầu những năm chín mươi, trong làng hiếm nhà có điện, hiếm cả nhà có tivi. Vậy mà ông Cao Phong đã sắm được cả tivi lẫn đầu quay băng. Đó không chỉ là của cải, mà còn là một thứ an ủi lặng lẽ của tuổi già. Những tối vắng gió, hai cha con ngồi trước màn hình, xem ca nhạc hoặc phim Ấn Độ, tiếng hát lạ lùng vang lên giữa gian nhà quen mùi khói rơm.

Cuộn băng bị mắng

Một hôm, Quy mượn được cuộn băng người ta gọi đùa là băng “con heo”. Nó rủ thằng Cương – gọi Quy bằng chú nhưng tuổi tác ngang nhau – sang xem cho biết.

Chưa kịp xem được bao lâu thì ông Cao Phong bắt gặp.

Ông nổi giận.

Mắng không tiếc lời.

Nào là ô nhiễm văn hóa.

Nào là bẩn thỉu, mất vệ sinh.

Nào là xem vào hỏng người, hỏng nết.

Hai đứa trẻ cúi đầu im lặng. Cuộn băng bị lấy ra, cất đi, như một thứ không nên xuất hiện trong căn nhà vốn quen nề nếp.

Lúc ông ở nhà một mình

Nhưng đời thường hay có những khúc ngoặt rất nhỏ.

Một trưa nọ, Quy đi quay mật ong về muộn. Ông Cao Phong ở nhà một mình. Không biết vì buồn tay, hay vì một ý nghĩ thoáng qua như gió lùa qua hiên cũ, ông đem cuộn băng ấy ra, lắp vào máy.

Ban đầu chỉ là xem cho biết.

Sau là ngồi xuống.

Rồi quên cả giờ ngọ. 

Đến khi Quy đẩy cổng bước vào, màn hình vội tắt. Ông già ho khẽ một tiếng, như để che đi sự lúng túng rất người của mình. Cơm trưa hôm ấy muộn, nhưng chẳng ai nhắc đến lý do.

Quy biết.

Nhưng Quy không nói.

Nó đem chuyện kể lại cho thằng Cương. Hai chú cháu chỉ cười tủm tỉm, cười nhỏ thôi, như thể vừa giữ được một bí mật không cần phải phơi ra ánh sáng.

Câu chào trước cổng

Vài hôm sau, thằng Cương đạp xe lên rủ Quy đi mua thùng nuôi ong. Vừa bước vào cổng, thấy ông Cao Phong đang ngồi trước hiên, nó lễ phép chào, giọng nửa đùa nửa thật:

— Cháu chào ông trẻ. Nghe bảo dạo này ông trẻ cũng xem phim tươi mát?

Ông Cao Phong móm mém cười. Nụ cười già, không giận, cũng không cần thanh minh dài dòng. Ông chống gậy đứng dậy, nói gọn:

— Thằng Quy về bất chợt quá… tao không kịp tắt.

Câu nói rơi xuống sân gạch, nhẹ như một tiếng thở. Nhưng trong đó có cả tuổi già, cả sự nghiêm khắc đã mòn đi, và cả cái phần người rất thật, rất đời của một con người bước qua nhiều năm tháng thiếu thốn.

Ngày xưa băng đĩa hiếm hoi,
Ông già mắng trẻ cho đời sạch trong.
Ai ngờ Quy đi quay ong,
Ông… chưa kịp tắt con ông đã về.

P/s: 

Thời chưa có mạng, chưa có điện thoại thông minh, người ta vẫn hiểu ra lẽ đời bằng những cuộn băng quay chậm, và đôi khi… quên cả nồi cơm trưa.

Ở quê tôi: Ông Phong có người con cả (không phân biệt nam nữ) tên là Cao, người làng gọi ông là ông Cao Phong.

---




Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2026

Lập xuân – ngày mười bảy tháng Chạp

 Năm nay, Lập xuân đến sớm hơn một chút.

Mười bảy tháng Chạp.

Hoa vườn quê nhà 

Ngoài lịch treo tường, người ta vẫn còn đếm ngược Tết. Nhưng ngoài trời, xuân đã lặng lẽ bước qua ngưỡng cửa.

Ngày mười bảy tháng Chạp mà nghe hai chữ Lập xuân, nhiều người còn ngỡ ngàng. Chạp là tháng gom rét, gom mưa phùn, gom những nỗi lo chưa kịp gói vào bánh chưng. Chạp là tháng dọn dẹp, tháng chờ đợi. Vậy mà xuân đã vào rồi đó – không kèn không trống, chỉ khẽ nghiêng mình cho đất biết.

Sáng hôm ấy, trời vẫn lạnh. Gió vẫn đủ làm bàn tay già run nhẹ khi mở then cửa. Nhưng cái lạnh không còn gắt. Nó mềm đi, như đã biết nhường chỗ. Ngoài vườn, cây khế đứng im, tưởng chừng khô khốc, nhưng nhìn kỹ sẽ thấy ở đầu cành một chấm xanh rất nhỏ. Nhỏ đến mức nếu vội, sẽ bỏ qua. Lập xuân bao giờ cũng thế – chỉ dành cho người chịu nhìn lâu.

Mười bảy tháng Chạp, chợ vẫn đông. Người ta mua lá dong, mua đậu, mua thịt. Ai cũng nói chuyện Tết, ít ai nói chuyện xuân. Nhưng xuân không cần được nhắc tên. Nó chỉ cần một khoảnh đất đủ ấm để cựa mình, một tấm lòng đủ tĩnh để nhận ra.

Ngày xưa, các cụ hay bảo: “Qua Lập xuân là đất đổi vía.” Chưa cấy ngay, chưa trồng ngay, nhưng trong lòng đất đã khác. Như con người, chưa vui liền, chưa nhẹ liền, nhưng đã bớt nặng một chút so với hôm qua.

Chiều mười bảy tháng Chạp, nắng lên nhạt nhòa. Không vàng, không rực, chỉ đủ làm cái rét chùn lại. Tôi ngồi bên ấm trà cũ, nước chưa thật ngon, nhưng thấy lòng yên. Tết còn xa vài bước, đông vẫn chưa chịu đi, nhưng xuân đã ghé rồi – ghé rất khẽ, rất hiền.

Lập xuân năm nay rơi vào Chạp.

Thế cũng hay.

Để nhắc rằng: trước khi năm cũ kịp khép lại, trời đất đã kịp mở ra một lối mềm cho lòng người.


Lập xuân 

Mười bảy tháng Chạp sang xuân

Gió còn sót rét, đất ngần ngại êm

Cành khô chưa dám gọi tên

Chỉ run run một chấm mềm xanh non.


Trời chưa cởi hết áo đông

Nắng pha loãng mỏng, phơ phồng hiên xa

Ấm trà cũ đặt bên nhà

Khói lên chậm rãi như là thời gian.


Xuân không giục, chẳng hẹn thề

Chỉ nghiêng mình xuống lối quê âm thầm

Ai còn bận gói trăm năm

Xuân ngồi đợi ở bờ râm cuối vườn.

HN, 8/2/26

P/s

Có phải những năm nhuận (âm lịch) là lập xuân vào tháng chạp?

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2026

Hồ Tây Hà Nội – Dẫu trăm năm, nước vẫn xanh một nỗi thiền

   Hồ Tây – viên ngọc xanh của Thăng Long, nơi lưu giữ hơi thở lịch sử và chốn tìm về của tâm hồn giữa thủ đô náo nhiệt.

Hồ Tây xưa - Ảnh Internet 

🌿  Nơi gió kể chuyện ngàn năm

   Nước Hồ Tây có vẻ đẹp không vội vàng. Mặt hồ phẳng như trang kinh xưa, mỗi sáng lại lật sang một trang mới. Người Hà Nội gọi Hồ Tây bằng cái tên quen mà kính: một góc yên bình để rũ bỏ bụi bặm phố phường, để lòng mình thôi xao động trước những được mất đời thường.

   Ai đi qua Hà Nội mà chưa một lần dừng bên Hồ Tây hít sâu làn gió mang theo mùi sen, hẳn chưa thấu trọn cái tĩnh lặng trong tâm người đất kinh kỳ.

📍 Hồ Tây ở đâu và có gì đặc biệt?

   Địa chỉ: Quận Tây Hồ, Hà Nội, Việt Nam

   Diện tích: Khoảng 500 ha

   Chu vi: Gần 18 km

   Nguồn gốc: Tàn tích của dòng Hồng Hà cổ, gắn với truyền thuyết Cáo Chín Đuôi, Hồ Kim Ngưu…

   Bao quanh hồ là hàng liễu buông lơi, mái chùa rêu phong, và những quán cà phê nép mình như đang thiền định. Hồ Tây đứng đó, chứng nhân cho bao lớp người đi qua.

🏛️ Dấu chân lịch sử bên bờ hồ

Chùa Trấn Quốc

   Cổ nhất Hà Nội. Ngôi chùa như chiếc neo giữ lại gốc rễ tâm linh của đất Thăng Long. Tiếng chuông ngân mỗi trưa gợi nhớ những người đã từng nghe, rồi đi về đâu chẳng ai rõ nữa.

Phủ Tây Hồ

   Nơi người ta đến để gửi điều mong mỏi vào cõi siêu linh. Giữa khói hương bảng lảng, đôi khi chỉ cần khấn thầm: “Xin bình an cũng đủ.”

Đền Quán Thánh, Chùa Kim Liên

   Những nếp gấp khác của lịch sử. Mỗi viên gạch, mỗi mái ngói đều đã thấm mưa nắng của nghìn mùa.

🍃 Ẩm thực ven hồ Vị ngon cũng biết thiền

Không ồn ào phô trương.

   Chỉ cần một đĩa bánh tôm vàng ruộm, chấm chút nước mắm ớt cay nồng, nhẩn nha nhìn mặt nước gợn nhẹ là đời bỗng mềm lại.

   Kem Tràng Tiền, chè sen, cà phê view hồ. Mấy món giản dị thế thôi mà giữ chân bao người đến tận khuya chỉ để ngồi thêm chút nữa, tiếc cái đẹp đang trôi.

Tuy vậy! Món ngon xưa chỉ còn trong ký ức:

Dưa La, húng Láng, ngổ Đầm 

Cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây.

🚶 Nhịp sống Hồ Tây – Chậm để thở

   Đạp xe vòng quanh hồ lúc sớm mai. Gặp bác hàng rong cười hiền hơn cả mặt trời.

   Lướt nhẹ trên ván chèo SUP để gió vuốt tóc và tâm trí thoát khỏi những suy nghĩ chật hẹp.

   Ghé thung lũng hoa Nhật Chiêu, thấy mỗi bông hoa cũng là một niệm vui nho nhỏ.

   Hồ Tây mênh mang không chỉ vì rộng mà vì lòng người khi đứng bên hồ cũng rộng thêm một chút.

🎭 Opera Hà Nội – Nốt nhạc mới trên trang cổ

   Tại bán đảo Quảng An, một nhà hát mới đang thành hình. Người ta nói nó sẽ đẹp như Sydney Opera House, mái vòm mô phỏng gợn sóng Hồ Tây. Đương đại mà không mất thiền vị.

   Có lẽ tương lai của Hồ Tây sẽ rực rỡ hơn, nhưng mong rằng tiếng chuông Trấn Quốc vẫn cứ ngân đều.

Kết lại

Hồ Tây không chỉ để ngắm.

Hồ Tây là để lặng.

Một sự lặng làm tâm trí mình biết thở dài mà vẫn thanh thản.

   Ngày nào đó, bạn thử tạt qua Hồ Tây vào lúc hoàng hôn. Ngồi nhìn ánh nắng rơi xuống lòng nước như một nghi thức buông bỏ. Biết đâu, bạn tìm lại điều gì đó đã bỏ quên nơi ngực trái.

Hồ Tây nghiêng bóng mây trời,

Chuông chùa thong thả gọi người lặng yên.

Một chiều gió thổi ngả nghiêng,

Lá rơi cũng hóa lời thiền giữa thu.

Đi xa mới biết mình hư,

Về bên mặt nước thấy như chính mình!

Hồ Tây nay - Ảnh Internet 

P/s: Nếu đã từng dạo bước quanh hồ, kể mình nghe một đoạn ký ức xem. Còn nếu chưa, đừng hứa hẹn xa xôi. Chỉ cần một chiều rảnh rỗi, Hồ Tây sẽ chờ bạn. 🌿✨

Xem thêm:

Hà Nội mở rộng đường ven hồ Tây thế nào khi không thu hồi đất | Tin tức mới nhất 24h - Đọc Báo Lao Động online - Laodong.vn https://share.google/7uYiWEFO4KIHWOSUz

(Kích đúp vào đường dẫn để xem)

---


Thứ Hai, 2 tháng 2, 2026

Một cuộc trở về lặng lẽ ở Cốc Bó

Một hang đá nhỏ nơi biên viễn, một cuộc trở về lặng lẽ, và từ đó mở ra vận mệnh của cả dân tộc. Cốc Bó – nơi cái lớn bắt đầu từ cái rất nhỏ.

Ảnh chụp 15/10/2024

Hang đá không gọi tên lịch sử

Dưới chân núi đá xám, nơi con suối nhỏ uốn mình như một nét bút mực tàu, hang Cốc Bó lặng lẽ nằm đó – khiêm nhường, thô mộc, chẳng phô trương. Nếu không có tấm bia khắc chữ, có lẽ người đi qua chỉ nghĩ đây là một hốc núi tránh mưa, một chỗ nghỉ chân của người đi rừng. Nhưng lịch sử thường chọn những nơi giản dị nhất để gửi gắm những bước ngoặt lớn lao.

Một cuộc trở về lặng lẽ

Một ngày cuối tháng Giêng năm 1941. Trời biên giới Cao Bằng rét cắt da. Người đàn ông gầy, áo chàm sẫm, vượt qua cột mốc 108, lặng lẽ bước về phía đất mẹ. Không kèn, không trống. Chỉ có tiếng gió núi và hơi thở của một người đã đi xa Tổ quốc hơn ba mươi năm, nay trở về như trở về nhà sau một giấc mộng dài. Lịch sử gọi ngày ấy bằng một dòng ngắn gọn; còn lòng người thì hiểu, đó là một cuộc trở về mang theo cả vận mệnh dân tộc.

Cốc Bó và những đêm không ngủ

Những ngày đầu, Người lấy tên là Già Thu, ở nhờ nhà ông Lý Quốc Súng. Tên nghe mộc, như một nhành cây già trong rừng. Cái tên đủ để ẩn mình, đủ để sống như một người dân bình thường giữa núi non nghèo khó. Rồi đến hang Cốc Bó, từ ngày 8 tháng 2 năm ấy. Một cái hang đá ẩm lạnh, bàn làm việc là phiến đá, giường ngủ là mấy tấm ván ghép vội. Cuộc sống chẳng có gì gọi là tiện nghi, nhưng lại đầy ắp suy tư.

Chỗ nhỏ cho việc lớn

Chính ở nơi tưởng chỉ có đá và rêu ấy, những trang lý luận được viết ra, những đường nét chiến lược dần hình thành. Dưới ánh đèn dầu leo lét, giữa tiếng suối chảy đều như nhịp thời gian, Người nghĩ về con đường đi cho một dân tộc còn chìm trong đêm dài nô lệ. Không phải những lời to tát, mà là những tính toán lặng thầm, bền bỉ – như nước chảy mòn đá.

Kết lại 

Giờ đây, Cốc Bó đã thành di tích. Người ta đến, chụp ảnh, đọc bia, rồi đi. Nhưng nếu đứng lâu hơn một chút, im lặng hơn một chút, sẽ thấy nơi này không chỉ kể chuyện lịch sử, mà còn nhắc ta về một điều rất cũ: việc lớn thường bắt đầu từ chỗ rất nhỏ, và chí lớn có thể nảy mầm từ một hang đá lạnh, một chiếc bàn đá thô sơ, và một con người biết nhẫn nại chờ mùa.

Cốc Bó không hùng vĩ. Nhưng Cốc Bó bền. Như cách lịch sử Việt Nam đi qua gian nan – chậm rãi, lặng lẽ, mà không bao giờ quay đầu.

Cột mốc rêu phong lặng gió ngàn,

Một người về lại giữa gian nan.

Hang sâu chép sử bằng đèn nhỏ,

Đá lạnh mà nung ấm giang san.

Giờng Bác Hồ ở hang Cốc Bó - Ảnh chụp 15/10/2024

P/s: Lịch sử đôi khi không nằm ở những nơi rộng lớn. Nó co mình trong một hang đá, nép dưới ánh đèn dầu, và chờ người đủ kiên nhẫn để lắng nghe.

Xem thêm: 

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự cầu truyền hình kỷ niệm 85 năm Ngày Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam ://share.google/Uc5nxslHGvTCa9D1w

(Kích đúp vào đường dẫn để xem)

---




Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026

(Truyện Kiều - Phần 5). Kiều bị Sở Khanh Lừa

Truyện Kiều - Ảnh Internet 

Ngậm ngùi rủ bước rèm châu,

Cách tường, nghe có tiếng đâu họa vần.

Một chàng vừa trạc thanh xuân,

1060. Hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng.

Nghĩ rằng cũng mạch thư hương,

Hỏi ra mới biết rằng chàng Sở Khanh.

Bóng Nga thấp thoáng dưới mành,

Trông nàng, chàng cũng ra tình đeo đai.

1065. Than ôi! sắc nước hương trời,

Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây?

Giá đành trong nguyệt trên mây,

Hoa sao, hoa khéo đọa đày bấy hoa?

Tức gan riêng giận trời già,

1070. Lòng này ai tỏ cho ta, hỡi lòng?

Thuyền quyên ví biết anh hùng,

Ra tay tháo cũi, sổ lồng như chơi!

Song thu đã khép cánh ngoài,

Tai còn đồng vọng mấy lời sắt đanh.

1075. Nghĩ người thôi lại nghĩ mình,

Cám lòng chua xót, nhạt tình chơ vơ.

Những là lần lữa nắng mưa,

Kiếp phong trần biết bao giờ mới thôi?

Đánh liều nhắn một hai lời,

1080. Nhờ tay tế độ vớt người trầm luân.

Mảnh tiên kể hết xa gần,

Nỗi nhà báo đáp, nỗi thân lạc loài.

Tan sương vừa rạng ngày mai,

Tiện hồng nàng mới nhắn lời gửi sang.

1085. Trời tây lãng đãng bóng vàng,

Phúc thư đã thấy tin chàng đến nơi.

Mở xem một bức tiên mai,

Rành rành tích việt có hai chữ đề.

Lấy trong ý tứ mà suy:

1090. Ngày hai mươi mốt, tuất thì phải chăng?

Chim hôm thoi thót về rừng,

Đóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành.

Tường đông lay động bóng cành,

Rẽ song, đã thấy Sở Khanh lẻn vào.

1095. Sượng sùng đánh dạn ra chào,

Lạy thôi, nàng mới rỉ tai ân cần.

Rằng: Tôi bèo bọt chút thân,

Lạc đàn mang lấy nợ nần yến anh.

Dám nhờ cốt nhục tử sinh,

1100. Còn nhiều kết cỏ ngậm vành về sau!

Lặng nghe, lẩm nhẩm gật đầu:

Ta đây phải mượn ai đâu mà rằng!

Nàng đà biết đến ta chăng,

Bể trầm luân, lấp cho bằng mới thôi!

1105. Nàng rằng: Muôn sự ơn người,

Thế nào xin quyết một bài cho xong.

Rằng: Ta có ngựa truy phong,

Có tên dưới trướng, vốn dòng kiện nhi.

Thừa cơ lẻn bước ra đi,

1110. Ba mươi sáu chước, chước gì là hơn.

Dù khi gió kép, mưa đơn,

Có ta đây cũng chẳng cơn cớ gì!

Nghe lời nàng đã sinh nghi,

Song đà quá đỗi, quản gì được thân.

1115. Cũng liều nhắm mắt đưa chân,

Mà xem con Tạo xoay vần đến đâu!

Cùng nhau lẻn bước xuống lầu,

Song song ngựa trước, ngựa sau một đoàn.

Đêm thâu khắc lậu canh tàn,

1120. Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm gương.

Lối mòn cỏ nhợt mù sương,

Lòng quê đi một bước đường, một đau.

Tiếng gà xao xác gáy mau,

Tiếng người đâu đã mái sau dậy dàng.

1125. Nàng càng thổn thức gan vàng,

Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào!

Một mình khôn biết làm sao,

Dặm rừng bước thấp, bước cao hãi hùng.

Hóa nhi thật có nỡ lòng,

1130. Làm chi dày tía, vò hồng, lắm nau!

Một đoàn đổ đến trước sau,

Vuốt đâu xuống đất, cánh đâu lên trời.

Tú bà tốc thẳng đến nơi,

Hầm hầm áp điệu một hơi lại nhà.

1135. Hung hăng chẳng nói chẳng tra,

Đang tay vùi liễu, giập hoa tơi bời.

Thịt da ai cũng là người,

Lòng nào hồng rụng, thắm rời chẳng đau.

Hết lời thú phục, khẩn cầu,

1140. Uốn lưng thịt đổ, cất đầu máu sa.

Rằng: Tôi chút phận đàn bà,

Nước non lìa cửa, lìa nhà, đến đây.

Bây giờ sống thác ở tay,

Thân này đã đến thế này thì thôi!

1145. Nhưng tôi có sá chi tôi,

Phận tôi đành vậy, vốn người để đâu?

Thân lươn bao quản lấm đầu,

Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa!

Được lời mụ mới tùy cơ,

1150. Bắt người bảo lĩnh làm tờ cung chiêu.

Bày vai có ả Mã Kiều,

Xót nàng, ra mới đánh liều chịu đoan.

Mụ càng kể nhặt, kể khoan,

Gạn gùng đến mực, nồng nàn mới tha.

1155. Vực nàng vào nghỉ trong nhà,

Mã Kiều lại ngỏ ý ra dặn lời:

Thôi đà mắc lận thì thôi!

Đi đâu chẳng biết con người Sở Khanh?

Bạc tình, nổi tiếng lầu xanh,

1160. Một tay chôn biết mấy cành phù dung!

Đà đào lập sẵn chước dùng,

Lạ gì một cốt một đồng xưa nay!

Có ba mươi lạng trao tay,

Không dưng chi có chuyện này, trò kia!

1165. Rồi ra trở mặt tức thì,

Bớt lời, liệu chớ sân si, thiệt đời!

Nàng rằng: Thề thốt nặng lời,

Có đâu mà lại ra người hiểm sâu!

Còn đương suy trước, nghĩ sau,

1170. Mặt mo đã thấy ở đâu dẫn vào.

Sở Khanh lên tiếng rêu rao:

Rằng nghe mới có con nào ở đây.

Phao cho quyến gió rủ mây,

Hãy xem có biết mặt này là aỉ

1175. Nàng rằng: Thôi thế thì thôi!

Rằng không, thì cũng vâng lời là không!

Sở Khanh quắt mắng đùng đùng,

Sấn vào, vừa rắp thị hùng ra tay,

Nàng rằng: Trời nhé có hay!

1180. Quyến anh, rủ yến, sự này tại ai?

Đem người giẩy xuống giếng khơi,

Nói rồi, rồi lại ăn lời được ngay!

Còn tiên tích việt ở tay,

Rõ ràng mặt ấy, mặt này chứ ai?

1185. Lời ngay, đông mặt trong ngoài,

Kẻ chê bất nghĩa, người cười vô lương!

Phụ tình án đã rõ ràng,

Dơ tuồng, nghỉ mới kiếm đường tháo lui.

Buồng riêng, riêng những sụt sùi:

1190. Nghĩ thân, mà lại ngậm ngùi cho thân.

Tiếc thay trong giá trắng ngần,

Đến phong trần, cũng phong trần như ai!

Tẻ vui cũng một kiếp người,

Hồng nhan phải giống ở đời mãi ru!

1195. Kiếp xưa đã vụng đường tu,

Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi!

Dù sao bình đã vỡ rồi,

Lấy thân mà trả nợ đời cho xong!

Vừa tuần nguyệt sáng, gương trong,

1200. Tú bà ghé lại thong dong dặn dò:

Nghề chơi cũng lắm công phu,

Làng chơi ta phải biết cho đủ điều.

Nàng rằng: Mưa gió dập dìu,

Liều thân, thì cũng phải liều thế thôi!

1205. Mụ rằng: Ai cũng như ai,

Người ta ai mất tiền hoài đến đây?

Ở trong còn lắm điều hay,

Nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng chung.

Này con thuộc lấy nằm lòng,

1210. Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề.

Chơi cho liễu chán, hoa chê,

Cho lăn lóc đá, cho mê mẩn đời.

Khi khóe hạnh, khi nét ngài,

Khi ngâm ngợi nguyệt, khi cười cợt hoa.

1215. Điều là nghề nghiệp trong nhà,

Đủ ngần ấy nết, mới là người soi.

Gót đầu vâng dạy mấy lời,

Dường chau nét nguyệt, dường phai vẻ hồng.

Những nghe nói, đã thẹn thùng,

1220. Nước đời lắm nỗi lạ lùng, khắt khe!

Xót mình cửa các, buồng khuê,

Vỡ lòng, học lấy những nghề nghiệp hay!

Khéo là mặt dạn, mày dày,

Kiếp người đã đến thế này thì thôi!

1225. Thương thay thân phận lạc loài,

Dẫu sao cũng ở tay người biết sao?

Lầu xanh, mới rủ trướng đào,

Càng treo giá ngọc, càng cao phẩm người.

Biết bao bướm lả, ong lơi,

1230. Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm.

Dập dìu lá gió, cành chim,

Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh.

Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,

Giật mình, mình lại thương mình xót xa.

1235. Khi sao phong gấm rủ là,

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?

Mặt sao dày gió dạn sương,

Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân?

Mặt người mưa Sở, mây Tần,

1240. Những mình nào biết có xuân là gì!

Đôi phen gió tựa, hoa kề,

Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu.

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,

Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ!

1245. Đòi phen nét vẽ, câu thơ,

Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa,

Vui là vui gượng kẻo mà,

Ai tri âm đó, mặn mà với ai?

Thờ ơ gió trúc, mưa mai,

1250. Ngẩn ngơ trăm nỗi, giùi mài một thân.

Ôm lòng đòi đoạn xa gần,

Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau!

Nhớ ơn chín chữ cao sâu,

Một ngày một ngả bóng dâu tà tà.

1255. Dặm ngàn, nước thẳm, non xa,

Nghĩ đâu thân phận con ra thế này!

Sân hòe đôi chút thơ ngây

Trân cam, ai kẻ đỡ thay việc mình?

Nhớ lời nguyện ước ba sinh,

1260. Xa xôi ai có thấu tình chăng ai?

Khi về hỏi liễu Chương đài,

Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay.

Tình sâu mong trả nghĩa dày,

Hoa kia đã chắp cành này cho chưa?

1265. Mối tình đòi đoạn vò tơ,

Giấc hương quan luống lần mơ canh dài.

Song sa vò võ phương trời,

Nay hoàng hôn, đã lại mai hôn hoàng.

Lần lần thỏ bạc ác vàng,

1270. Xót người trong hội đoạn tràng đòi cơn!

Đã cho lấy chữ hồng nhan,

Làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân!

Đã đày vào kiếp phong trần,

Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi!

(Còn nữa)

...

Khi tiếng súng bên ngoài gặp vết rạn bên trong

Khủng hoảng nội bộ Lục quân Mỹ giữa chiến sự Iran Có những cuộc chiến không bắt đầu từ tiếng súng. Chúng khởi đi từ những bất đồng âm thầm –...