Thứ Tư, 31 tháng 12, 2025

Năm 2025 – nhìn lại, như đứng bên bờ một dòng sông cũ

Ngày cuối năm.

   Gió không còn gắt như những ngày bão, nhưng cũng chưa đủ hiền để gọi là yên. Tôi đứng lặng, nhìn năm 2025 trôi qua như nhìn một khúc sông cũ: nước đục rồi lại lắng, có đoạn cuộn xoáy, có đoạn phẳng lặng đến ngờ vực.

   Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông.

   Nhưng ai cũng có lúc đứng bên bờ mà nhớ.

Tạm biệt năm cũ - Ảnh minh họa 

1. Trong nước – bước chậm, mà không lùi

   Năm qua, tiền ngoại rút ra như người khách vội, thị trường chứng khoán có những buổi sáng mở mắt đã thấy lòng chao đảo.

   Ấy vậy mà dưới mặt đất, đời sống vẫn lặng lẽ đi tiếp.

   Cầu An Phú thông xe.

   Làn xe đạp trên Mai Chí Thọ (TP. HCM) kéo dài thêm mấy cây số.

   Nhà cho người vùng lũ dựng lên vội vã, trước khi Tết kịp về.

   Du khách nước ngoài đến đông hơn cả những năm trước dịch – những năm mà ta từng nghĩ sẽ không bao giờ quay lại.

Hóa ra:

🪱Tiền có thể vào ra

🪱Bảng điện có thể xanh đỏ

🪱Nhưng con đường thì vẫn phải mở

🪱Mái nhà thì vẫn phải che mưa

🪱Và con người thì vẫn cần đi, cần đến, cần trở về

   Kinh tế năm 2025 của Việt Nam giống một người đã qua tuổi sung sức: 

không còn chạy nhanh, 

nhưng biết giữ thăng bằng; 

không khoe sức, chỉ lặng lẽ bước đều.

2. Ngoài kia – thế giới ngồi trong phòng chờ

   Nhìn ra bên ngoài, thế giới năm 2025 không ồn ào như những năm bùng nổ, nhưng lại nặng nề như một căn phòng kín gió.

   Trung Quốc tập trận quanh Đài Loan – không chỉ là súng đạn, mà là ánh mắt.

   Nga và Ukraine tiếp tục quần thảo – không còn nóng nảy, mà dai dẳng như một cơn đau mãn tính.

   Trung Đông vẫn cháy âm ỉ.

   Và ở Bắc Cực, băng tan lặng lẽ, không cần tiếng nổ.

   Tất cả giống như những người đang chờ một chuyến xe: 

🪱Xe cũ đã trễ giờ

🪱Xe mới thì chưa ai dám chắc sẽ đến.

Thế giới không sụp đổ.

Nhưng cũng không còn nguyên vẹn.

3. Những cuộc điện đàm – và những điều không nói

   Lãnh đạo các nước vẫn gọi điện cho nhau.

   Giọng nói lịch sự. Từ ngữ cân nhắc. Nụ cười ngoại giao.

   Nhưng đối thoại giờ đây không còn để mơ hòa bình xa xôi, 

mà để tránh làm mọi thứ tệ hơn.

   Hòa bình năm 2025 không phải ánh sáng cuối đường hầm,

mà là một khoảng tối vừa đủ để người ta không bắn thêm phát nữa.

   Nghe thì buồn.

   Nhưng thật.

4. Khí hậu – cuộc chiến không cần kẻ thù

   Trong khi con người còn bận tranh giành, thì thiên nhiên lặng lẽ trả lời.

Bắc Cực ấm lên.

Bão mạnh hơn.

Nắng gắt hơn.

Và những năm “bất thường” dần trở thành… bình thường mới.

Không có tuyên bố.

Không có đàm phán.

Chỉ có hệ quả.

5. Khép lại một năm – mở ra một cách sống

   Nếu phải nói một câu cho năm 2025, tôi sẽ nói nhỏ thôi:

Thế giới chưa tan, nhưng đã rạn.

Con người chưa tuyệt vọng, nhưng đã thôi ngây thơ.

Với Việt Nam, có lẽ điều quý nhất là:

🪱Không ngả theo cực đoan

🪱Không ảo tưởng yên bình

🪱Và không quên lo cho những điều rất đời: con đường, mái nhà, bữa cơm, giấc ngủ

Năm 2025 khép lại.

Không huy hoàng.

Không thảm họa.

Chỉ là một năm mà ai cũng hiểu thêm một điều:

Muốn đi xa, phải biết đi chậm;

Muốn đứng vững, phải biết cúi mình trước gió.

Tôi gấp năm cũ lại.

Đặt nó vào ngăn ký ức – nơi có bụi thời gian, nhưng cũng có mùi quen thuộc.

Rồi lặng lẽ bước sang năm mới.

Không cầu lớn.

Chỉ mong bình an đủ dùng.

...

Cổ và Cũ - Du Hà Ngọc 


Thứ Ba, 30 tháng 12, 2025

Vương Ông (Bố Thúy Kiều, Thúy Vân, Vương Quan) trong Truyện Kiều

   Một hình ảnh người cha hiền hậu, nho nhã và trọng nghĩa giữa cơn sóng gió cuộc đời. Vương Ông trong Truyện Kiều hiện lên lặng lẽ mà cảm động, là biểu tượng của đạo hiếu, tình phụ tử và nỗi bi thương của người lương thiện trong xã hội phong kiến.

Vương Ông (Bố Thúy Kiều) - Ảnh do trí nhớ và trợ giúp của công nghệ

🕯️ Vương Ông – Người Cha Trong Cơn Bể Dâu

   Có những nhân vật trong Truyện Kiều chẳng cần xuất hiện nhiều, chỉ vài nét chấm nhẹ của Nguyễn Du cũng đủ khiến ta thấy cả một kiếp người. Vương Ông – người cha của Thúy Kiều, Thúy Vân và Vương Quan – là một bóng dáng như thế. Ông không có những hành động lớn lao, chẳng có câu nói lẫy lừng, nhưng mỗi khi nhắc tới, lòng ta lại chùng xuống — như nghe tiếng thở dài lặng lẽ của một người cha trong cơn bể dâu.

🌾 Một gia phong nề nếp và hiền hậu

   Nhà họ Vương vốn “gia tư nghiêm chỉnh”, nếp nhà ấy toát lên từ chính người cha. Nguyễn Du không tả nhiều, chỉ qua con cái mà ta hiểu được phẩm hạnh của cha mẹ. Kiều, Vân đều đoan trang, nền nã — tất nhiên phải được uốn nắn trong khuôn phép của một người cha nho nhã, trọng đạo nghĩa.

   Tôi hình dung Vương Ông ngồi trầm ngâm bên án thư, chén trà đã nguội, nét mặt hiền hậu mà đượm chút lo toan. Một người cha kiểu cũ – yêu con mà chẳng nói ra, dạy con bằng ánh mắt, bằng nếp sống thanh liêm, không bon chen.

⚖️ Khi sóng gió kéo về

   Rồi bỗng một ngày, “một nhà dâu bể sóng cồn”. Cơn oan khuất từ đâu kéo tới, cuốn cả gia đình vốn hiền lành vào vòng gió bão. Người cha bị bắt, nhà tan của mất – một nỗi đau chẳng lời nào tả nổi.

   Không cần Nguyễn Du tả chi tiết, ta vẫn thấy ông già ấy đau đến thế nào khi nghe con gái bán mình để cứu cha. Nỗi đau ấy chắc lặng như tiếng gió đêm, dồn lại nơi đôi mắt đã mỏi mòn vì cuộc đời.

🌿 Một kiếp nho gia giữa thời loạn

   Vương Ông là thân phận của biết bao người trí thức trong thời phong kiến – học để sống đúng đạo, nhưng lại bị đời vùi dập. Giữ chữ “trung” mà hóa ra bị oan; sống nhân nghĩa mà gặp đoạn trường.

   Nguyễn Du thương ông, như thương cả lớp người lương thiện trong xã hội đầy bất công ấy. Dưới ngòi bút của ông, Vương Ông trở thành biểu tượng của người cha hiền, của cái lương tri bị lãng quên giữa chốn quyền thế.

🕰️ Vết nhăn của thời gian và tình phụ tử

   Đọc đến đoạn Kiều hy sinh vì cha, ta bỗng thấy bóng dáng của biết bao người cha trong cuộc đời này: sống lặng lẽ, không cầu danh lợi, chỉ mong giữ yên mái nhà, dạy con nên người.

   Vương Ông – như hạt bụi vàng lấp lánh trong dòng thời gian – dạy ta một điều giản dị mà sâu sắc: Tình cha không cần lời, chỉ cần một ánh mắt buồn cũng đủ nói trăm điều thương.

🌾 Kết

   Người xưa nói: “Cha như núi Thái, mẹ như nguồn sông.” Núi kia có thể bị gió mưa bào mòn, nhưng tấm lòng người cha thì không đổi thay. Vương Ông của Nguyễn Du — hiền hậu, lặng thinh, chịu đựng — chính là bóng núi ấy, đứng giữa bão đời mà không oán, chỉ thương con, thương người.

   Có lẽ trong mỗi chúng ta, đâu đó vẫn thấp thoáng hình ảnh của một “Vương Ông” riêng — người cha ít nói, chỉ biết gánh chịu thay con. Và khi đọc lại Truyện Kiều, ta không chỉ thương Kiều, mà còn thương cho ông, người cha mang dáng dấp của muôn đời nhân thế.

✍️ Vài câu thơ khép lại

Bể dâu nổi sóng nhà tan,

Mắt cha trũng bóng thời gian u buồn.


Giữ lòng ngay giữa nhiễu nhương,

Nho phong còn đó, tơ vương nỗi đời.


Một con bán phận cứu cha,

Giọt rơi theo giọt lệ già thâm sâu.


Đèn khuya còn thức canh thâu,

Hồn cha lặng thắp vì đâu đoạn trường.


P/s: Bạn có từng thấy dáng cha mình đâu đó trong hình bóng Vương Ông – người cha giữa cơn bể dâu ấy chăng?

---



Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2025

(Truyện Kiều - Phần 3). Biến cố gia đình - Kiều bán mình chuộc cha.

Truyện Kiều - Ảnh Internet 

Tần ngần dạo gót lầu trang,

Một đoàn mừng thọ ngoại hương mới về,

575. Hàn huyên chưa kịp giãi dề,

Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao.

Người nách thước, kẻ tay đao;

Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.

Già giang một lão một trai,

580. Một dây vô lại buộc hai thâm tình.

Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh,

Rụng rời khung dệt, tan tành gói may.

Đồ tế nhuyễn, của riêng tây,

Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham.

585. Điều đâu bay buộc ai làm?

Này ai dan dậm, giật giàm bỗng dưng?

Hỏi ra sau mới biết rằng:

Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ.

Một nhà hoảng hốt ngẩn ngơ,

590. Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây.

Hạ từ van lạy suốt ngày,

Điếc tai lân tuất, phũ tay tồi tàn.

Rường cao rút ngược dây oan,

Dẫu là đá cũng nát gan, lọ người.

595. Mặt trông đau đớn rụng rời,

Oan này còn một kêu trời, nhưng xa.

Một ngày lạ thói sai nha,

Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.

Sao cho cốt nhục vẹn tuyền,

600. Trong khi ngộ biến tòng quyền biết sao?

Duyên hội ngộ, đức cù lao,

Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn?

Để lời thệ hải minh sơn,

Làm con trước phải đền ơn sinh thành.

605. Quyết tình nàng mới hạ tình:

Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha!

Họ Chung có kẻ lại già,

Cũng trong nha dịch lại là từ tâm.

Thấy nàng hiếu trọng tình thâm,

610. Vì nàng nghĩ cũng thương thầm xót vay.

Tính bài lót đó luồn đây,

Có ba trăm lạng việc này mới xuôi.

Hãy về tạm phó giam ngoài,

Dặn nàng qui liệu trong đôi ba ngày.

615. Thương tình con trẻ thơ ngây,

Gặp cơn vạ gió tai bay bất kỳ!

Đau lòng tử biệt sinh ly,

Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên!

Hạt mưa sá nghĩ phận hèn,

620. Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân.

Sự lòng ngỏ với băng nhân,

Tin sương đồn đại xa gần xôn xao.

Gần miền có một mụ nào,

Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh.

625. Hỏi tên rằng: Mã Giám sinh.

Hỏi quê, rằng: Huyện Lâm Thanh cũng gần.

Quá niên trạc ngoại tứ tuần,

Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.

Trước thầy sau tớ lao xao

630. Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang.

Ghế trên ngồi tót sỗ sàng,

Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra.

Nỗi mình thêm tức nỗi nhà,

Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng!

635. Ngại ngùng giợn gió e sương,

Nhìn hoa bóng thẹn, trông gương mặt dày.

Mối càng vén tóc bắt tay,

Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai.

Đắn đo cân sắc cân tài,

640. Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ.

Mặn nồng một vẻ một ưa,

Bằng lòng khách mới tùy cơ dặt dìu.

Rằng: Mua ngọc đến Lam Kiều,

Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường?

645. Mối rằng: đáng giá nghìn vàng,

Gấp nhà nhờ lượng người thương dám nài.

Cò kè bớt một thêm hai,

Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm.

Một lời thuyền đã êm dằm

650. Hãy đưa canh thiếp trước cầm làm ghi.

Định ngày nạp thái vu qui,

Tiền lưng đã sẵn việc gì chẳng xong!

Một lời cậy với Chung công,

Khất từ tạm lĩnh Vương ông về nhà.

655. Thương tình con trẻ cha già,

Nhìn nàng ông những máu sa ruột dàu:

Nuôi con những ước về sau,

Trao tơ phải lứa, gieo cầu đáng nơi.

Trời làm chi cực bấy trời,

660. Này ai vu thác cho người hợp tan!

Búa rìu bao quản thân tàn,

Nỡ đầy đọa trẻ, càng oan khốc già.

Một lần sau trước cũng là,

Thôi thì mặt khuất chẳng thà lòng đau!

665. Theo lời càng chảy dòng châu,

Liều mình ông rắp gieo đầu tường vôi.

Vội vàng kẻ giữ người coi,

Nhỏ to nàng lại tìm lời khuyên can:

Vẻ chi một mảnh hồng nhan,

670. Tóc tơ chưa chút đền ơn sinh thành.

Dâng thư đã thẹn nàng Oanh,

Lại thua ả Lý bán mình hay sao?

Cỗi xuân tuổi hạc càng cao,

Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành.

675. Lòng tơ dù chẳng dứt tình,

Gió mưa âu hẳn tan tành nưóc non.

Thà rằng liều một thân con,

Hoa dù rã cánh, lá còn xanh cây.

Phận sao đành vậy cũng vầy,

680. Cầm như chẳng đậu những ngày còn xanh.

Cũng đừng tính quẩn lo quanh,

Tan nhà là một thiệt mình là hai.

Phải lời ông cũng êm tai,

Nhìn nhau giọt vắn giọt dài ngổn ngang.

685. Mái ngoài họ Mã vừa sang,

Tờ hoa đã ký, cân vàng mới trao.

Trăng già độc địa làm sao?

Cầm dây chẳng lựa buộc vào tự nhiên.

Trong tay đã sẵn đồng tiền,

690. Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì!

Họ Chung ra sức giúp vì,

Lễ tâm đã đặt, tụng kỳ cũng xong.

Việc nhà đã tạm thong dong,

Tinh kỳ giục giã đã mong độ về.

695. Một mình nàng ngọn đèn khuya,

 Áo dầm giọt lệ, tóc xe mối sầu.

Phận dầu, dầu vậy cũng dầu,

Xót lòng đeo đẳng bấy lâu một lời!

Công trình kể biết mấy mươi.

700. Vì ta khăng khít, cho người dở dang.

Thề hoa chưa ráo chén vàng,

Lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa.

Trời Liêu non nước bao xa.

Nghĩ đâu rẽ cửa chia nhà tự tôi.

705. Biết bao duyên nợ thề bồi.

Kiếp này thôi thế thì thôi còn gì.

Tái sinh chưa dứt hương thề.

Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai.

Nợ tình chưa trả cho ai,

710. Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.

Nỗi riêng riêng những bàng hoàng,

Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn.

Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân,

Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han:

715. Cơ trời dâu bể đa đoan,

Một nhà để chị riêng oan một mình,

Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh?

Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây?

Rằng: Lòng đương thổn thức đầy,

720. Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong.

Hở môi ra cũng thẹn thùng,

Để lòng thì phụ tấm lòng với ai.

Cậy em, em có chịu lời,

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

725. Giữa đường đứt gánh tương tư,

Loan giao chắp mối tơ thừa mặc em.

Kể từ khi gặp chàng Kim,

Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.

Sự đâu sóng gió bất kỳ,

730. Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai!

Ngày xuân em hãy còn dài,

Xót tình máu mủ, thay lời nước non.

Chị dù thịt nát xương mòn,

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

735. Chiếc thoa với bức tờ mây,

Duyên này thì giữ vật này của chung.

Dù em nên vợ nên chồng,

Xót người mệnh bạc, ắt lòng chẳng quên.

Mất người còn chút của tin,

740. Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.

Mai sao dầu có bao giờ.

Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.

Trông ra ngọn cỏ lá cây,

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.

745. Hồn còn mang nặng lời thề,

Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai;

Dạ đài cách mặt khuất lời,

Rẩy xin chén nước cho người thác oan.

Bây giờ trâm gẫy bình tan,

750. Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân.

Trăm nghìn gửi lại tình quân,

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.

Phận sao phận bạc như vôi,

Đã đành nước chẩy hoa trôi lỡ làng.

755. Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!

Cạn lời hồn ngất máu say,

Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng.

Xuân Huyên chợt tỉnh giấc nồng,

760. Một nhà tấp nập, kẻ trong người ngoài.

Kẻ thang người thuốc bời bời,

Mới dằn cơn vựng, chưa phai giọt hồng.

Hỏi: Sao ra sự lạ lùng?

Kiều càng nức nở mở không ra lời.

765. Nỗi nàng Vân mới rỉ tai,

Chiếc thoa này với tờ bồi ở đây…

Này cha làm lỗi duyên mày,

Thôi thì nỗi ấy sau này đã em.

Vì ai rụng cải rơi kim,

770. Để con bèo nổi mây chìm vì ai.

Lời con dặn lại một hai,

Dẫu mòn bia đá, dám sai tấc vàng.

Lậy thôi, nàng lại thưa chiềng,

Nhờ cha trả được nghĩa chàng cho xuôi.

775. Sá chi thân phận tôi đòi,

Dẫu rằng xương trắng quê người quản đâu.

Xiết bao kể nỗi thảm sầu!

Khắc canh đã giục nam lâu mấy hồi.

Kiệu hoa đâu đã đến ngoài,

780.Quản huyền đâu đã giục người sinh ly.

Đau lòng kẻ ở người đi,

Lệ rơi thấm đá tơ chia rũ tằm.

Trời hôm mây kéo tối rầm,

Rầu rầu ngọn cỏ đầm đầm cành sương.

785. Rước nàng về đến trú phường,

Bốn bề xuân khóa một nàng ở trong.

Ngập ngừng thẹn lục e hồng,

Nghĩ lòng lại xót xa lòng đòi phen.

Phẩm tiên rơi đến tay hèn,

790. Hoài công nắng giữ mưa gìn với ai:

Biết thân đến bước lạc loài,

Nhị đào thà bẻ cho người tình chung.

Vì ai ngăn đón gió đông,

Thiệt lòng khi ở đau lòng khi đi.

795. Trùng phùng dầu họa có khi,

Thân này thôi có còn gì mà mong.

Đã sinh ra số long đong,

Còn mang lấy kiếp má hồng được sao?

Trên yên sẵn có con dao,

800. Giấu cầm nàng đã gói vào chéo khăn.

Phòng khi nước đã đến chân,

Dao này thì liệu với thân sau này.

Đêm thu một khắc một chầy,

Bâng khuâng như tỉnh như say một mình.

(Còn nữa)

...

Thứ Năm, 25 tháng 12, 2025

Kim Trọng Trong Truyện Kiều

   Kim Trọng – chàng thư sinh hiền hậu của “Truyện Kiều”, yêu một người và giữ lời đến trọn kiếp. Trong dòng đời nhiều đổi thay, tình ấy vẫn sáng như vệt trăng xưa soi trang sách cũ.

Kim Trọng – Người Đợi Bóng Kiều Dưới Ánh Trăng Xưa

   Hình ảnh Kim Trọng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du – chàng nho sinh phong nhã, yêu Kiều bằng cả tấm lòng son, suốt mười lăm năm vẫn giữ vẹn nghĩa tình. Một biểu tượng của người quân tử biết yêu và biết đợi.

Kim Trọng - Ảnh tưởng tượng và trợ giúp của công nghệ📷

Chàng thư sinh của mùa xuân năm ấy

   Giữa buổi thanh minh, gió lướt qua hàng liễu, Nguyễn Du để cho Thúy Kiều gặp Kim Trọng — một chàng nho sinh “vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa”.

   Không phải tình yêu sét đánh kiểu thời nay, mà là cái “gặp gỡ làm chi” — nhẹ như khói, nhưng đủ để khắc ghi cả một đời người.

   Từ ánh mắt đầu tiên, Kim Trọng đã yêu Kiều say đắm. Say đến mức “bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người”, nhớ một bóng hình đến nỗi “con oanh học nói trên cành mỉa mai”. Cái say ấy không cuồng nhiệt, không vội vã, mà thấm như sương đêm, lặng như gió sớm — kiểu yêu của người quân tử.

Người yêu – người đợi

   Khi Kiều bán mình chuộc cha, Kim Trọng đau mà chẳng trách.

   Chàng hiểu cái đạo làm người lớn hơn cả tình riêng, và vì thế, chàng đợi.

   Đợi trong nhớ, trong mộng, trong nỗi cô đơn của một vùng cỏ mọc xanh rì mà “nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu.”

   Suốt mười lăm năm trời, chàng vẫn giữ trọn một lòng. Khi gặp lại, không lời oán, không ý đòi, chỉ một nụ cười hiền:

"Thề xưa giở đến kim hoàn,

Của xưa lại giở đến đàn với hương.".

   Một chữ nghĩa đứng trước chữ tình. Và trong cái nghĩa ấy, Kim Trọng hóa thành biểu tượng của lòng thủy chung, của con người biết yêu bằng tâm, sống bằng đức.

Ánh sáng dịu trong cơn bão đời

   Nguyễn Du viết Kiều trong tiếng thở dài của nhân thế, nhưng ông để lại Kim Trọng như một ánh sáng dịu, soi lên nhân tình.

   Giữa xã hội phong kiến đầy oan nghiệt, vẫn có một người yêu mà không chiếm đoạt, thương mà không giày vò, đợi mà không héo hon.

   Kim Trọng không phải anh hùng, không phải người cứu vớt Kiều khỏi bão tố, nhưng là người giữ cho tình yêu ấy một nơi trú ngụ bình yên.

   Chàng chính là người xưa – cái cũ đáng quý trong lòng người nay.

Bâng khuâng nhớ bóng người xưa,

Trăng in cửa sổ mà chưa thấy nàng.

Cỏ xanh một mảnh mơ màng,

Oanh kia cất tiếng như đang mỉa tình.

Hay là:

Trăng xưa vỡ nửa hiên chiều,

Nàng xa một bước mà tiêu cả đời.

Cỏ xanh chôn dấu một thời,

Oanh kia hót giễu tình người khờ si.

Hoặc:

Bao năm nước chảy mạn thuyền,

Bóng nàng chẳng thấy, lời nguyền chẳng phai.

Tóc sương bạc nửa khoang vai,

Lòng son còn giữ một mai gặp người.


P/s: Trong đời, có những người đến để ta biết thế nào là “yêu mà không cần có”. Kim Trọng là thế – người đứng phía sau ánh trăng, đợi một bóng hình đã khuất, vẫn mỉm cười như thể tình yêu là cách sống hiền lành nhất giữa cõi người.

---


Thứ Ba, 23 tháng 12, 2025

Khi chuông đổ giữa mùa Nô-en Hà Nội

Hà Nội bước vào Nô-en không vội.

   Thành phố chỉ lạnh hơn một chút, đèn sáng hơn một chút, và người ta… dễ mềm lòng hơn một chút.

Nhà thờ lớn Hà Nội - Ảnh minh họa 

   Chiều xuống ở phố Nhà Chung, gió mang theo mùi bánh nướng, mùi áo len mới, mùi khói xe trộn lẫn với tiếng cười khe khẽ. Khi trời vừa chạm tối, tiếng chuông Nhà Thờ Lớn ngân lên — không ồn ào, không dồn dập — chỉ đủ để những ai đang đi nhanh chợt chậm lại.

   Nhà Thờ đứng đó, như vẫn đứng suốt hơn trăm mùa Nô-en đã qua. Hai tháp chuông cao, tường đá xám, những ô cửa vòm vươn lên bầu trời mùa đông. Ánh đèn vàng phủ lên mặt tiền, làm thời gian mềm ra, cũ đi, và hiền hơn.

Người Hà Nội hay thế

   Không cần vào lễ cũng đứng lại. Không cần cầu nguyện cũng lặng yên. Có khi chỉ để nghe chuông, có khi chỉ để thấy lòng mình bớt chông chênh trong cái rét đầu mùa.

   Giữa quảng trường, người trẻ chụp ảnh, người già ngồi nghỉ, trẻ con kéo tay cha mẹ đòi kẹo bông. Những ghế nhựa trà chanh xếp thành hàng — đơn sơ mà ấm. Chỉ một cốc trà, một câu chuyện cũ, một người chịu ngồi nghe… thế là đủ cho một tối Nô-en đúng nghĩa Hà Nội.

   Nhà Thờ Lớn đã quen với tất cả điều đó. Quen với Giáng sinh thời áo len dày và xe đạp Peugeot. Quen với Giáng sinh thời áo phao, điện thoại giơ cao và đèn nháy lấp lánh. Dù thời nào, chuông vẫn đổ, đá vẫn đứng, và ký ức vẫn ở lại.

   Có những người đến đây để chụp ảnh Nô-en. Nhưng cũng có những người đến chỉ để nhớ — nhớ một mùa đông cũ, một bàn tay từng nắm, một lời hẹn đã trôi qua cùng năm tháng. Và kỳ lạ thay, giữa ánh đèn Giáng sinh, Nhà Thờ Lớn không làm người ta buồn hơn. Nó chỉ khiến nỗi nhớ trở nên dịu. Như thể bảo rằng: “Không sao đâu. Những điều đã cũ vẫn có chỗ đứng của nó.”

   Khi chuông cuối cùng ngân lên trong đêm, Hà Nội lại tiếp tục nhịp sống quen. Xe cộ đông hơn, phố sáng hơn, tiếng cười lan xa hơn. Nhưng ai đã từng đứng lại dưới tháp chuông ấy, sẽ mang theo một chút lặng yên rất riêng.

   Nô-en ở Hà Nội không cần tuyết. Chỉ cần chuông đổ đúng lúc, gió lạnh vừa đủ, và một nơi như Nhà Thờ Lớn — để nhắc ta rằng giữa thành phố này, vẫn có chỗ cho sự chậm rãi, cho ký ức, và cho lòng người ấm lại.

Chuông rơi chậm giữa mùa đông phố cũ

Đá xám già nghe gió kể năm xưa

Người đứng lặng, thời gian bỗng chậm lại

Nhà Thờ còn — giữ hộ một lời thưa.


P/S: Nếu tối Nô-en này bạn đi ngang qua Nhà Chung, đừng vội. Hãy đứng lại một lát. Chuông có thể không gọi ai, nhưng biết đâu… nó đang gọi đúng bạn.

Tôi nhớ, có lần đi xem Chúa "đẻ", quảng trường Nhà thờ đông như nêm cối. Hai chân không chạm đất mà di chuyển đến vài mét.

Khung giờ chuông ngân 

* Thứ 2 đến thứ 6 (ngày thường): 5:30; 18:30

* Thứ 7: 5:30; 10:00; 18:00

* Chủ nhật: 5:00; 7:00; 8:30; 10:00; 11:30; 16:00; 18:00; 20:00

---



Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2025

⭐ Ký ức đường hào mùa xuân ở Cốc Nghè

   Ký ức về một buổi sáng trên điểm cao 812 ở Cốc Nghè: câu chuyện dí dỏm về “đường hào mùa xuân”, một cú ngã đáng nhớ, và tuổi trẻ hồn nhiên của người lính công binh.

Giao thông hào - Ảnh Internet 

   Có những quãng đời đi qua rồi vẫn còn để lại mùi đất, mùi gió, mùi của một thời trẻ tuổi chưa biết sợ điều gì, chỉ biết bước tiếp về phía trước. Tôi nhớ mãi những ngày đầu lên Cốc Nghè – vùng núi đá sương giăng, nơi mỗi con dốc đều như thử thách xem người lính có đủ kiên nhẫn và bản lĩnh hay không. Đường đi lối lại thì lạ lẫm, còn tôi thì lóng ngóng như chú gà con vừa theo mẹ vào sân mới.

   May mà có anh Châu – tiểu đoàn phó – người anh cả hiền mà rắn rỏi. Những ngày đầu, anh thường rủ tôi “đi tuyến”, để thằng lính công binh trẻ như tôi biết đâu là lối, đâu là mạch của cả một vùng chiến địa.

 Buổi sáng trời trong xanh thăm thẳm 

   Hôm đó trời vào thu. Sáng se se lạnh, bầu trời xanh và trong đến mức có cảm giác nếu đưa tay lên cao, mình có thể gõ nhẹ vào mặt trời. Anh Châu rủ tôi đi sớm hơn mọi ngày, nói một câu nhẹ tênh:

– Đi sớm cho mát, với lại… đường này đẹp lắm.

   Đẹp thật. Con đường đất chạy men theo triền núi dẫn tới gần sư bộ tiền phương 313, điểm cao 812. Khi đến một đoạn giao thông hào nhỏ, anh chỉ tay xuống dưới:

Đó, đường hào mùa xuân.

   Tôi chưa kịp hỏi vì sao mùa xuân lại nằm giữa tiết thu thì anh đã rút ống nhòm ra quan sát. Dáng anh đứng trên miệng hào, nghiêng nghiêng, trông vừa kỹ lưỡng vừa có chút lãng tử của người từng trải.

 Chuyện “bộ đội nữ” và cú nhảy đáng nhớ

Bỗng anh khẽ kêu lên:

– Ơ… bên kia (TQ) có bộ đội nữ . Không biết họ đang tập thể dục hay đang luyện tập gì kìa…

   Thằng lính mới lên "chốt" nghe đến “bộ đội nữ” thì tim như bị ai thúc một cái. Tôi không nghĩ ngợi gì, nhảy cái “bụp” xuống giao thông hào.

   Kết quả: trán đập vào bờ bên trái, gáy đập vào bờ bên phải. Nảy đom đóm mắt, sao bay lấp lánh như pháo hoa đêm 30 Tết.

   Thấy tôi nhảy, anh Châu cũng nhảy theo, nhưng phong thái vẫn… thư thả như thể đây là bài tập buổi sáng chứ không phải hành động theo bản năng của hai anh lính tò mò.

   Chúng tôi ngồi dưới đáy hào, lưng chạm đất mát lạnh, vừa thở vừa cố nhịn cười. Không biết bên sườn núi đối diện có ống nhòm nào đang soi hai thằng lính mặt mũi xây xẩm vì nhảy hào hay không.

 Tuổi trẻ – đôi khi ngã cái để đời

   Có những cú ngã nhẹ mà nhớ lâu. Đau vài phút, nhưng lại hóa thành câu chuyện ấm áp đi theo năm tháng. Lính công binh lắm hiểm nguy, nhiều gian lao, nhưng đôi khi ký ức đọng lại lại là những điều nhỏ nhặt: một bước nhảy vội, một câu nói đùa, một lần “hoa mắt” mà lòng vẫn thấy vui.

 Lắng lại

   Nhiều năm trôi qua, Cốc Nghè vẫn nằm nguyên trong trí nhớ tôi như một bức ảnh rửa bằng ánh sáng thời gian: mờ mờ, ấm áp, và có chút xao động dịu dàng. Mỗi khi nhắc đến “đường hào mùa xuân”, tôi không nhớ chiến địa căng thẳng bao nhiêu, mà lại nhớ tiếng cười khe khẽ của hai anh em dưới đáy hào, nhớ một buổi sáng trời trong xanh, nhớ cái dại khờ của tuổi đôi mươi.

   Kỷ niệm ấy — vừa đau vừa vui — hóa ra lại là món quà dịu dàng nhất của một thời đã qua.

Dốc núi cũ mà người xưa nhớ mãi,

Một bước chân run cũng hóa nụ cười.

Tuổi trẻ ngã đâu mà buồn lâu được,

Đất ôm rồi — thành kỷ niệm trong đời.


P/s:

   Có những chuyện ngày ấy tưởng chỉ để kể cho vui, vậy mà đến giờ vẫn thấy tim ấm lạ. Hóa ra tuổi trẻ không dài, nhưng lại đủ rộng để ôm cả một cú ngã, một tiếng cười, và một mảnh trời trong veo của Cốc Nghè vào ký ức. Chỉ cần nhớ lại… là tự nhiên thấy mình trẻ thêm vài tuổi.

   Cốc Nghè là một bản giáp biên giới Việt - Trung thuộc xã Thanh Thủy, Vị Xuyên - Hà Giang.

   Anh Châu  -  D phó D25, lữ 543.

---





Thứ Năm, 18 tháng 12, 2025

Dì Tính

Một đêm ghé lại mái tranh,

Mẹ thương giữ lại, vợ đành ngồi trông.

Sáng đi khuất nẻo non sông,

Một đời ở lại bến không bóng người.

Chiến tranh - Ảnh minh họa 

Người đàn bà bước ra từ nạn đói

   Dì Tính là con nuôi của ông bà ngoại tôi. Gốc gác của dì, đến giờ vẫn không ai nói rõ. Chỉ biết ông ngoại đem dì về nuôi từ những năm đói Ất Dậu – cái thời người ta sống sót đã là một ân huệ, còn ruột rà, họ mạc nhiều khi phải xếp sau nồi cháo cầm hơi.

   Dì lớn lên trong sự chắt chiu và lặng lẽ. Không phải kiểu lặng lẽ của người biết nhẫn, mà là lặng lẽ của người không có quyền lên tiếng. Năm nay dì đã ngoài tám mươi. Chồng dì là liệt sĩ. Hai chữ ấy, nghe qua tưởng như một danh xưng tròn trịa, nhưng phía sau là cả một đời đàn bà sống cùng thiếu vắng.

Một cuộc gả chồng sớm

   Ông ngoại gả chồng cho dì khá sớm. Ở làng quê nghèo ngày ấy, con gái lớn lên không phải để mơ mộng, mà để sớm có người “đỡ đần”. Dì sinh được hai người con trai, đặt tên là Nghĩa và Lý – những cái tên nghe đầy đạo lý, mà đời thì lại thiếu đủ bề.

   Chồng dì là con riêng của bà Huệ – mẹ chồng dì. Một gia đình nghèo chồng lên nghèo. Dì ít học, không biết tính toán làm ăn, nên năm nào cũng thiếu ăn. Hai đứa nhỏ học hành lận đận, học mãi không lên được lớp, rồi bỏ dở lúc nào không hay.

   Dì vẫn thường kể chuyện ấy bằng giọng đều đều, như người ta nói về cái nghèo quen thuộc, không còn sức để than.

Ngày người đàn ông ra đi 

   Ngày chồng dì đi bộ đội, dì đã có đủ hai người con. Gia đình dì khi ấy thuộc diện nghèo nhất làng. Tiễn chồng ra đi, dì không khóc nhiều. Thời ấy, người ta quen với chia ly, quen đến mức không dám khóc to vì sợ… xui.

   Chiến tranh cuốn người đàn ông ra khỏi mái nhà tranh, để lại người đàn bà và hai đứa trẻ. Dì ở lại, vừa làm ruộng, vừa nuôi con, vừa chờ chồng. Sự chờ đợi lúc đó chưa mang hình hài bi kịch, chỉ là một điều tất nhiên: chiến tranh qua rồi, người sẽ về.

Một đêm duy nhất 

   Có một lần, đơn vị của chồng dì hành quân ngang qua làng. Chồng dì được đơn vị cho về nhà đúng một đêm. Chỉ một đêm ngắn ngủi giữa sống và chết, giữa chiến tranh và gia đình.

   Nhưng đêm ấy, bà mẹ chồng không cho con trai về ngủ với vợ. Bà bảo con phải ở lại ngủ với mẹ. Có lẽ bà thương con theo cách của một người mẹ sợ mất con. Còn người vợ trẻ và hai đứa con thơ, đành chấp nhận đứng ngoài sự thương ấy.

   Dì kể đến đây, giọng vẫn chùng xuống, dù chuyện đã mấy chục năm trôi qua. Dì không nói thẳng là trách, nhưng nỗi trách cứ nằm im trong từng khoảng lặng.

Sáng hôm sau, chồng dì trở lại đơn vị.

Và từ ngày ấy… không bao giờ trở về nữa.

Nỗi trách không thành lời

   Dì kể câu chuyện này với tôi như kể một việc đã cũ, nhưng không hề nguôi. Dì trách bà mẹ chồng, nhưng trách rất khẽ, như sợ người đã khuất cũng nghe thấy.

   Còn tôi, nghe xong, cũng không biết nói sao cho phải. Không biết nên đứng về bên nào. Bên người mẹ sợ mất con, hay bên người vợ cả đời mất chồng.

   Có lúc tôi tự hỏi, hay là người đàn ông ấy, trong đêm ngắn ngủi kia, cũng từng phân vân như câu Kiều:

“Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn?”

chiến tranh đã không cho anh cơ hội trả lời.

KẾT – Một đời thiếu vắng 

   Dì Tính sống thêm mấy chục năm nữa (giờ đang ốm nặng), nuôi con, nuôi cháu, sống lặng lẽ trong làng. Danh phận là vợ liệt sĩ, nhưng hạnh phúc thì dừng lại ở một đêm không trọn.

   Có những số phận, chỉ vì một đêm không được ở bên nhau, mà cả một đời sau đó phải sống trong thiếu vắng. Có những nỗi buồn, càng kể nhỏ, càng ở lại lâu.

   Và có những người đàn bà, cả đời không đòi hỏi được bù đắp, chỉ lặng lẽ tin vào một câu rất xa:

“Còn thân ắt cũng đền bồi có khi.”


P/S:

   Có những câu chuyện không cần kết luận. Chỉ cần kể lại, để người đọc tự im lặng một lúc, là đủ.

   Chồng của dì tên là Nguyễn Văn Giảng, tôi gọi là dượng.

Thứ Ba, 16 tháng 12, 2025

Quần Ống Loe – Từ “Tội Đồ” Sau Giải Phóng Đến Xu Hướng Hot 2025

   Quần ống loe – từ biểu tượng thời trang từng bị cấm đoán sau giải phóng, nay quay lại mạnh mẽ năm 2025. Một câu chuyện cũ, kể lại bằng ký ức và nụ cười.

Quần loe - Ảnh cũ 

Nhớ lại một thời 

   Những năm cuối thập niên 1970, Sài Gòn – nay là TP.HCM – vẫn còn vương vấn chút dư âm Mỹ. Trong cái thời giao thoa ấy, thời trang phương Tây len lỏi qua từng con phố, từng góc ký túc xá, và dừng lại khá lâu ở… ống quần. Quần ống loe xuất hiện, không ồn ào mà đủ khiến tuổi trẻ lúc bấy giờ thấy mình khác đi một chút.

Câu chuyện cũ: Một thời "phấp phới"

   Từ Sài Gòn, mốt quần ống loe lan ra Hà Nội, cuốn theo hầu hết thanh niên, sinh viên. Tôi còn nhớ rất rõ: bạn bè quanh tôi, ai cũng mê. Người thì loe vừa phải, trông lịch sự như sắp đi họp lớp. Người thì chơi lớn, ống loe to như hai cái chổi lá cọ, hoặc hai tàu lá chuối gặp gió.

   Đi bộ thì ống quần vẫy vẫy. Đạp xe thì phấp phới bay bay. Trông vừa buồn cười, vừa ngầu – cái ngầu rất riêng của một thời thiếu thốn mà ham đẹp.

Khi quần ống loe thành..."tội đồ"

   Những tháng cuối năm 1975, quần ống loe bị coi là không phù hợp. Ai mặc là bị nhắc nhở ngay: phải cắt bớt phần loe, sửa thành ống đứng cho “lành mạnh”. Ban đầu, nhiều người nghe theo. Nhưng rồi mốt mạnh quá. Cấm mãi cũng chẳng xuể.

   Thanh niên vẫn lén may, vẫn mặc. Giữ cho mình một chút tự do rất nhỏ – nhưng đủ để nhớ cả đời.

Vòng quay thời trang: 2025 quay lại

   Tôi từng nghĩ quần ống loe đã yên nghỉ cùng ký ức sinh viên. Nhưng không. Thời trang là vòng quay luân hồi. Năm 2025, flare jeans (quần bò loe) trở lại rộn ràng.

   Ống loe bây giờ khác xưa: cạp cao, ôm đùi, loe nhẹ từ gối. Không còn “loe khủng” mà tinh tế, biết chiều vóc dáng. Phối áo thun, blazer (một kiểu áo khoác mới) hay crop top (áo ngắn, không dài như áo thông thường) đều ổn. Từ công sở đến dạo phố, đều có đất diễn😅.

Nhìn lại mà cười

   Nhìn giới trẻ hôm nay mặc quần ống loe, tôi bất giác mỉm cười. Thứ từng bị cắt xén, từng bị coi là lệch chuẩn, nay lại thành biểu tượng thời thượng.

   Thời trang rốt cuộc không chỉ là quần áo. Nó là ký ức, là sự trở về, là một cách để thời gian nói nhỏ: có những điều tưởng đã mất, chỉ là đang đợi quay lại đúng lúc.

Quần loe nay  - Ảnh Internet 

Ống loe ngày cũ bị đem cắt,

Nay về nguyên vẹn giữa thanh xuân.

Thời trang xoay vòng không báo trước,

Chổi lá năm nào hóa… quý nhân.


P/S

   Trong tủ đồ bây giờ, bạn đã có một chiếc flare jeans chưa? Nếu có, biết đâu bạn cũng đang mặc lại… một mảnh ký ức của người đi trước.

---



Chủ Nhật, 14 tháng 12, 2025

(Truyện Kiều - Phần 2). Kim Trọng - Kiều gặp nhau khi du xuân

 

Truyện Kiều -Ảnh Internet 

245. Chàng Kim từ lại thư song,

Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây.

Sầu đong càng lắc càng đầy,

Ba thu dồn lại một ngày dài ghê.

Mây Tần khóa kín song the,

250. Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao.

Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao,

Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng.

Buồng văn hơi giá như đồng,

Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan.

255. Mành Tương phất phất gió đàn,

Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình.

Vì chăng duyên nợ ba sinh,

Thì chi đem thói khuynh thành trêu ngươi.

Bâng khuâng nhớ cảnh, nhớ người,

260. Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi.

Một vùng cỏ mọc xanh rì,

Nước ngâm trong vắt, thấy gì nữa đâu!

Gió chiều như gợi cơn sầu,

Vi lô hiu hắt như màu khảy trêu.

265. Nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều,

Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang.

Thâm nghiêm kín cổng cao tường,

Cạn dòng lá thắm dứt đường chim xanh.

Lơ thơ tơ liễu buông mành,

270. Con oanh học nói trên cành mỉa mai.

Mấy lần cửa đóng then cài,

Đầy thềm hoa rụng, biết người ở đâu?

Tần ngần đứng suốt giờ lâu,

Dạo quanh chợt thấy mái sau có nhà.

275. Là nhà Ngô Việt thương gia,

Buồng không để đó người xa chưa về.

Lấy điều du học hỏi thuê,

Túi đàn cặp sách đề huề dọn sang.

Có cây, có đá sẵn sàng,

280. Có hiên Lãm thúy, nét vàng chưa phai.

Mừng thầm chốn ấy chữ bài,

Ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây.

Song hồ nửa khép cánh mây,

Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông.

285. Tấc gang đồng tỏa nguyên phong,

Tuyệt mù nào thấy bóng hồng vào ra.

Nhẫn từ quán khách lân la,

Tuần trăng thấm thoắt nay đà thêm hai.

Cách tường phải buổi êm trời,

290. Dưới đào dường có bóng người thướt tha.

Buông cầm xốc áo vội ra,

Hương còn thơm nức, người đà vắng tanh.

Lần theo tường gấm dạo quanh,

Trên đào nhác thấy một cành kim thoa.

295. Giơ tay với lấy về nhà:

Này trong khuê các đâu mà đến đây?

Ngẫm âu người ấy báu này,

Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm!

Liền tay ngắm nghía biếng nằm,

300. Hãy còn thoang thoảng hương trầm chưa phai.

Tan sương đã thấy bóng người,

Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ.

Sinh đà có ý đợi chờ,

Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng.

305. “Thoa này bắt được hư không,

Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về?”

Tiếng Kiều nghe lọt bên kia,

Ơn người quân tử sá gì của rơi.

Chiếc thoa nào của mấy mươi,

310. Mà lòng trọng nghĩa khinh tài xiết bao!”

Sinh rằng: “Lân lý ra vào,

Gần đây nào phải người nào xa xôi.

Được rày như chút thơm rơi,

Kể đà thiểu não lòng người bấy nay!

315. Mấy lâu mới được một ngày,

Dừng chân gạn chút niềm tây gọi là”

Vội về thêm lấy của nhà,

Xuyến vàng đôi chiếc, khăn là một vuông.

Thang mây rón bước ngọn tường,

320. Phải người hôm nọ rõ ràng chẳng nhe?

Sượng sùng giữ ý rụt rè,

Kẻ nhìn rõ mặt, người e cúi đầu.

Rằng: “Từ ngẫu nhĩ gặp nhau,

Thầm trông trộm nhớ, bấy lâu đã chồn.

325. Xương mai tính đã gầy mòn,

Lần lừa ai biết hãy còn hôm nay!

Tháng tròn như gửi cung mây,

Trần trần một phận ấp cây đã liều!

Tiện đây xin một hai điều,

330. Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng?”

Ngần ngừ nàng mới thưa rằng:

“Thói nhà băng tuyết, chất hằng phỉ phong.

Dù khi lá thắm, chỉ hồng,

Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.

335. Nặng lòng xót liễu vì hoa,

Trẻ con đã biết đâu mà dám thưa!”

Sinh rằng: “Rày gió mai mưa,

Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi!

Dù chăng xét tấm tình si,

340. Thiệt đây mà có ích gì đến ai?

Chút chi gắn bó một hai,

Cho đành, rồi sẽ liệu bài mối manh.

Khuôn thiêng dù phụ tấc thành,

Cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời.

345. Lượng xuân dù quyết hẹp hòi,

Công đeo đuổi chẳng thiệt thòi lắm ru".

Lặng nghe lời nói như ru,

Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng.

Rằng: “Trong buổi mới lạ lùng,

350. Nể lòng có lẽ cầm lòng cho đang!

Đã lòng quân tử đa mang,

Một lời vâng tạc đá vàng thuỷ chung.”

Được lời như cởi tấm lòng,

Giở kim châu với khăn hồng trao tay.

355. Rằng: “Trăm năm cũng từ đây,

Của tin, gọi một chút này làm ghi.”

Sẵn tay khăn gấm quạt quì,

Với cành thoa ấy tức thì đổi trao.

Một lời gắn bó tất giao,

360. Mái sau dường có xôn xao tiếng người.

Vội vàng lá rụng hoa rơi,

Chàng về viện sách, nàng rời lầu trang.

Từ phen đá biết tuổi vàng,

Tình càng thấm thía, lòng càng ngẩn ngơ.

365. Sông Tương một dải nông sờ,

Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia.

Một tường tuyết lở sương che.

Tin xuân đâu dễ đi về cho năng.

Lần lần ngày gió đêm trăng,

370. Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua.

Ngày vừa sinh nhật ngoại gia,

Trên hai đường dưới nữa là hai em.

Tưng bừng sắm sửa áo xiêm,

Biện dâng một lễ xa đem tấc thành.

375. Nhà hương thanh vắng một mình,

Ngẫm cơ hội ngộ đã dành hôm nay.

Thì trân thức thức sẵn bày,

Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mé tường.

Cách hoa sẽ dặng tiếng vàng,

380. Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông.

Trách lòng hờ hững với lòng,

Lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu.

Những là đắp nhớ đổi sầu,

Tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm.

385. Nàng rằng: “Gió bắt mưa cầm,

Đã cam tệ với tri âm bấy chầy.

Vắng nhà được buổi hôm nay,

Lấy lòng gọi chút ra đây tạ lòng.”

Lần theo núi giả đi vòng,

390. Cuối tường dường có nẻo thông mới rào.

Sắn tay mở khoá động đào,

Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên Thai.

Mặt nhìn mặt càng thêm tươi,

Bên lời vạn phúc, bên lời hàn huyên.

395. Sánh vai về chốn thư hiên,

Ngâm lời phong nguyệt, nặng nguyền non sông.

Trên yên bút giá thi đồng,

Đạm thanh một bức tranh tùng treo trên.

Phong sương được vẻ thiên nhiên,

400. Mặn mà nét bút càng nhìn càng tươi.

Sinh rằng: “Phác hoạ vừa rồi,

Phẩm đề xin một vài lời thêm hoa.”

Ngộ khi gió táp mưa sa,

Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu.

405. Khen: Tài nhả ngọc phun châu,

Nàng Ban ả Tạ cũng đâu thế này!

Kiếp tu xưa ví chưa dày,

Phúc nào nhắc được giá này cho ngang!

Nàng rằng: Trộm liếc dung quang,

410. Chẳng sân bội ngọc cũng phường kim môn.

Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn,

Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay?

Nhớ từ năm hãy thơ ngây,

Có người tướng sĩ đoán ngay một lời:

415. Anh hoa phát tiết ra ngoài,

Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.

Trông người lại ngẫm đến ta,

Một dầy một mỏng biết là có nên?’

Sinh rằng: Giải cấu là duyên,

420. Xưa nay nhân định thắng nhiên cũng nhiều.

Ví dù giải kết đến điều,

Thì đem vàng đá mà liều với thân!

 Đủ điều trung khúc ân cần,

Lòng xuân phơi phới chén xuân tàng tàng.

425. Ngày vui ngắn chẳng đầy gang,

Trông ra ác đã ngậm gương non đoài.

Vắng nhà chẳng tiện ngồi dai,

Giã chàng nàng mới kíp dời song sa.

 Đến nhà vừa thấy tin nhà,

430. Hai thân còn dở tiệc hoa chưa về.

Cửa ngoài vội rủ rèm the,

Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình.

Nhặt thưa gương giọi đầu cành,

Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu.

435. Sinh vừa tựa án thiu thiu,

Dở chiều như tỉnh dở chiều như mê.

Tiếng sen sẽ động giấc hòe,

Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần.

Bâng khuâng đỉnh Giáp non Thần,

440. Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng.

Nàng rằng: Khoảng vắng đêm trường,

Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa.

Bây giờ rõ mặt đôi ta,

Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?

445. Vội mừng làm lễ rước vào,

 Đài sen nối sáp song đào thêm hương.

Tiên thề cùng thảo một chương,

Tóc mây một món dao vàng chia đôi.

Vầng trăng vằng vặc giữa trời,

450. Đinh ninh hai mặt một lời song song.

Tóc tơ căn vặn tấc lòng,

Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.

Chén hà sánh giọng quỳnh tương,

Dải là hương lộn bình gương bóng lồng.

455. Sinh rằng: Gió mát trăng trong,

Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam.

Chày sương chưa nện cầu Lam,

Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng?

Nàng rằng: Hồng diệp xích thằng,

460. Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri.

 Đừng điều nguyệt nọ hoa kia.

Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai.

Rằng: Nghe nổi tiếng cầm đài,

Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ.

465. Thưa rằng: Tiện kỹ sá chi,

Đã lòng dạy đến dạy thì phải vâng.

Hiên sau treo sẵn cầm trăng,

Vội vàng sinh đã tay nâng ngang mày.

Nàng rằng: Nghề mọn riêng tay,

470. Làm chi cho bận lòng này lắm thân!

So dần dây vũ dây văn,

Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương.

Khúc đâu Hán Sở chiến trường,

Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau.

475. Khúc đâu Tư mã Phượng cầu,

Nghe ra như oán như sầu phải chăng!

Kê Khang này khúc Quảng lăng,

Một rằng lưu thủy hai rằng hành vân.

Qua quan này khúc Chiêu Quân,

480. Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia.

Trong như tiếng hạc bay qua,

 Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.

Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,

Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.

485. Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,

Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu.

Khi tựa gối khi cúi đầu,

Khi vò chín khúc khi chau đôi mày.

Rằng: Hay thì thật là hay,

490. Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào!

Lựa chi những bậc tiêu tao,

Dột lòng mình cũng nao nao lòng người?

Rằng: Quen mất nết đi rồi,

Tẻ vui thôi cũng tính trời biết sao!

495. Lời vàng âm lĩnh ý cao,

Họa dần dần bớt chút nào được không.

Hoa hương càng tỏ thức hồng,

 Đầu mày cuối mắt càng nồng tấm yêu.

Sóng tình dường đã xiêu xiêu,

500. Xem trong âu yếm có chiều lả lơi.

Thưa rằng: đừng lấy làm chơi,

Dẽ cho thưa hết một lời đã nao!

Vẻ chi một đóa yêu đào,

Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh.

505. Đã cho vào bậc bố kinh,

 Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầụ

Ra tuồng trên Bộc trong dâu,

Thì con người ấy ai cầu làm chi!

Phải điều ăn xổi ở thì,

510.Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày!

Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay,

Lứa đôi ai đẹp lại tày Thôi Trương.

Mây mưa đánh đổ đá vàng,

Quá chiều nên đã chán chường yến anh.

505. Trong khi chắp cánh liền cành,

Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên.

Mái tây để lạnh hương nguyền,

Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng.

Gieo thoi trước chẳng giữ giàng,

520. Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai?

Vội chi liễu ép hoa nài,

Còn thân ắt lại đền bồi có khi!

Thấy lời đoan chính dễ nghe,

Chàng càng thêm nể thêm vì mười phân.

525. Bóng tàu vừa lạt vẻ ngân,

Tin đâu đã thấy cửa ngăn gọi vào.

Nàng thì vội trở buồng thêu,

Sinh thì dạo gót sân đào bước ra.

Cửa sài vừa ngỏ then hoa,

530. Gia đồng vào gởi thư nhà mới sang.

 Đem tin thúc phụ từ đường,

Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề.

Liêu dương cách trở sơn khê,

Xuân đường kíp gọi sinh về hộ tang.

535. Mảng tin xiết nỗi kinh hoàng,

Băng mình lẻn trước đài trang tự tình.

Gót đầu mọi nỗi đinh ninh,

Nỗi nhà tang tóc nỗi mình xa xôi:

Sự đâu chưa kịp đôi hồi,

540. Duyên đâu chưa kịp một lời trao tơ,

Trăng thề còn đó trơ trơ,

Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng.

Ngoài nghìn dặm chốc ba đông,

Mối sầu khi gỡ cho xong còn chầy!

545. Gìn vàng giữ ngọc cho hay,

Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.

Tai nghe ruột rối bời bời,

Ngập ngừng nàng mới giãi lời trước sau:

 Ông tơ ghét bỏ chi nhau,

550. Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi!

Cùng nhau trót đã nặng lời,

Dẫu thay mái tóc dám dời lòng tơ!

Quản bao tháng đợi năm chờ,

Nghĩ người ăn gió nằm mưa xót thầm.

555. Đã nguyền hai chữ đồng tâm,

Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai.

Còn non còn nước còn dài,

Còn về còn nhớ đến người hôm nay!

Dùng dằng chưa nỡ rời tay,

560. Vầng đông trông đã đứng ngay nóc nhà.

Ngại ngùng một bước một xa,

Một lời trân trọng châu sa mấy hàng.

Buộc yên quảy gánh vội vàng,

Mối sầu xẻ nửa bước đường chia hai.

565. Buồn trông phong cảnh quê người,

 Đầu cành quyên nhặt cuối trời nhạn thưa.

Não người cữ gió tuần mưa,

Một ngày nặng gánh tương tư một ngày.

Nàng còn đứng tựa hiên tây,

570. Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ.

Trông chừng khói ngất song thưa,

Hoa trôi trác thắm, liễu xơ xác vàng.

(Còn nữa)

...

P/s:

  - Vào năm 2016, trong chuyến thăm chính thức Việt Nam, Tổng thống Barack Obama khi phát biểu tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia cũng đã dùng hai câu Kiều để kết thúc bài phát biểu của mình: 

Rằng: “Trăm năm cũng từ đây,

Của tin, gọi một chút này làm ghi.”

  Hai câu thơ trong Truyện Kiều là khoảnh khắc Kim Trọng trao kỷ vật cho Thuý Kiều khắc ghi lòng tin yêu giữa hai người.


  - Nguyễn Phú Trọng: 26/6/2006, hồi 16 giờ, Quốc hội bầu tôi giữ chức Chủ tịch Quốc hội. Lúc ấy tôi cũng vừa mừng, vừa lo, phần lo là nhiều hơn, vì tôi chưa từng làm Chủ tịch Quốc hội bao giờ, chưa quen với công việc của Quốc hội (lúc bấy giờ tôi đang làm Bí thư Thành ủy Hà Nội, giữ chức Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, phụ trách công tác lý luận của Đảng). Tôi lo không biết có hoàn thành được nhiệm vụ không. Khi phát biểu trước Quốc hội, tôi đã ngẫu hứng lẩy 2 câu Kiều:

Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn

Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay!

Thứ Hai, 8 tháng 12, 2025

Hùng Bớp và chuyến xe Ben giữa lửa đạn

Bối cảnh

   Ở Phương Thiện, lúc nào cũng có hai chiếc xe Ben chất đầy đá dăm, đậu sẵn dưới lán, máy đã hâm nóng, chỉ chờ lệnh là lao ra. Nhiệm vụ của chúng: lấp những hố pháo mà quân TQ vừa khoan xuống mặt Quốc lộ 2, giữ cho con đường huyết mạch không bị tê liệt.  

Xe tải Ben chở đá - Ảnh Internet 

Nhiệm vụ bất ngờ

   Giữa trưa, khi mọi người chuẩn bị ăn cơm, Hùng Bớp nhận lệnh lái một trong hai chiếc xe ra hiện trường. Chiếc xe nổ máy, rời khỏi lán dưới đồi cọ. Gần một tiếng đồng hồ sau, anh trở về, vừa nhảy xuống xe vừa cười nhăn nhở: “Suýt chết!”.  

Khoảnh khắc sinh tử

   Anh kể lại: vừa quay đầu xe, chưa kịp đổ đá thì mấy quả pháo đã nổ dồn dập xung quanh. Trong tích tắc, Hùng Bớp nghiêng ben, đổ ào đá xuống hố, rồi tăng ga phóng thẳng, mặc cho đạn pháo vẫn nổ ùng ùng phía sau.  

Dấu tích chiến tranh

   Mọi người vây quanh chiếc xe, săm soi từng vết thương. Họ đếm được tám vết mảnh đạn găm vào thùng và thành xe. Có lỗ thủng to đến mức quả trứng gà chui lọt, ngay cạnh cửa ghế lái. Điều kỳ lạ là cả bốn bánh xe không hề bị trúng mảnh nào, còn Hùng Bớp vẫn nguyên vẹn đứng đó.  

Cảm xúc lặng lẽ

   Sau phút kể chuyện, Hùng Bớp lặng lẽ bê bát cơm, đứng ăn, mắt nhìn chiếc xe của mình như muốn khóc. Đó không chỉ là sự may mắn thoát chết, mà còn là tình cảm gắn bó với chiếc xe – người bạn đồng hành đã cùng anh vượt qua lửa đạn.  

Xe Ben lao giữa vòng vây pháo,  

Đá dăm trút xuống hố lửa hồng.  

Tám vết đạn hằn trên thân sắt,  

Hùng Bớp cười, mắt muốn rưng rưng.  

`  

P/s

   Câu chuyện về Hùng Bớp không chỉ là một lát cắt của chiến tranh, mà còn là biểu tượng cho sự kiên cường của những con người bình dị. Giữa bom đạn, họ vẫn làm nhiệm vụ, vẫn giữ cho con đường thông suốt, vẫn sống và cười, để rồi lặng lẽ khóc trước chiếc xe đã cùng mình thoát chết.  

   Chiếc xe Ben ở Phương Thiện không chỉ chở đá, mà còn chở cả niềm tin, sự sống còn và ký ức không thể nào quên của một thời máu lửa.  

   Một lái xe nữa tôi gặp ở Phương Thiện tên là Giảng, đã có vợ con ở Yên Bái. D25, Lữ 543 khi ấy có 3 lái xe ô tô: Giảng, Hiển và Hùng Bớp.

   Phương Thiện là một xã thuộc Huyện Vị Xuyên cũ. 

   Lỗ thủng ở cửa cạnh ghế lái tôi còn nhớ như in trong đầu.

---



Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2025

Nghĩa Tình Đồng Đội 2025

Cuối năm chạm gió xưa len lỏi,

Lòng người lính lại ấm những bàn tay.

Dẫu tháng rộng ngày dài bao biến đổi,

Tình đồng đội còn mãi chẳng hề phai.

Tặng hoa cho Ban Liên lạc (06/12/2025)

   Nhận lời mời của Ban Liên lạc truyền thống Bộ đội Công binh Quân khu 2 – Khu vực Phú Thọ, chúng tôi, những đại diện CCB từ Yên Bái, Hà Nội đã tụ hội về thành phố Việt Trì – mảnh đất trung du giàu truyền thống và ký ức.

   Tay bắt mặt mừng. Những cái ôm thật chặt. Có cả những giọt nước mắt hạnh phúc sau nhiều tháng năm xa cách.

   Chúng tôi – những người lính năm xưa – trở về bên nhau, có các CCB nam, có các CCB nữ từng chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu trong những ngày lửa đạn của chiến tranh biên giới phía Bắc.

   Có những “cây đa, cây đề” của ngành công binh – tuổi đời cao, tuổi quân cũng cao; lại có những người tuổi đời còn trẻ mà tuổi quân đã dày dạn; và cũng có người tuổi đời đã vào chiều muộn nhưng tuổi quân chỉ dăm bảy năm.

   Nhưng trên hết, tất cả chúng tôi đã từng khoác trên mình màu xanh Bộ đội Cụ Hồ – một ký ức không bao giờ phai.

   Sau nghi thức khai mạc là phần giao lưu bằng những bài ca truyền thống của quân đội và của lực lượng Công binh, xen lẫn những tiết mục múa dân tộc mộc mạc, đậm chất núi rừng. Những thước phim tư liệu về nhiệm vụ, chiến công của Công binh Quân khu 2 như sống dậy cả một thời hào hùng.

   Tiếp đó, đồng chí Nguyễn Bá Chung, Trưởng ban Liên lạc CCB khu vực Phú Thọ, trình bày báo cáo đánh giá hoạt động của Hội trong những năm qua và phương hướng thời gian tới.

   Đồng chí Đinh Hồng Pha, Trưởng ban Liên lạc CCB Quân khu 2 kiêm Trưởng ban Liên lạc CCB khu vực Hà Nội, phát biểu chỉ đạo và gợi mở định hướng cho hoạt động của Hội.

   Buổi gặp mặt trở nên ấm áp hơn khi 19 đồng chí được trao kỷ niệm chương, ghi nhận quá trình cống hiến và những năm tháng không thể nào quên. Tiếp đó, chúng tôi chụp ảnh lưu niệm, rồi cùng nâng ly mừng ngày hội tụ – nơi những câu chuyện năm xưa lại ùa về, chân thật và xúc động.

   Có người “ăn to, nói lớn”, có người lại “ăn nhỏ, nói khẽ”, nhưng tất cả đều từng là những chiến sĩ kiên cường, dũng cảm trong chiến đấu và trong bảo đảm chiến đấu những năm tháng chiến tranh biên giới.

   Trong sâu thẳm, tôi vẫn nhìn thấy đâu đó những ánh mắt chưa thật vui, những nụ cười chưa thật tròn. Bởi ở tuổi thất thập, nhiều đồng đội vẫn phải gắng gượng dùng chút sức lực còn lại để mưu sinh.

   Tôi hy vọng, bước sang năm mới, sẽ có những thay đổi tích cực để những người lính – đặc biệt là người lính công binh – khi đã hết tuổi lao động, dù chỉ có trên dưới 10 năm phục vụ trong quân đội, vẫn có được một khoản trợ cấp hàng tháng để vơi bớt lo toan.

   Để ánh mắt ấy được vui thêm chút nữa, nụ cười ấy tròn thêm chút nữa… trước khi họ bước sang “bầu trời bên kia của cuộc đời”, cho dù ngày xưa họ từng “ngông nghênh” một chút của tuổi trẻ đi chăng nữa. 

   Ấy là văn hiến của dân tộc!

Ảnh lưu niệm - TT Sonn


P/s:

  Xin gửi lời tri ân sâu sắc đến những người lính công binh – những con người đã lặng thầm cống hiến, kiên cường trong chiến đấu và bền bỉ trong cuộc sống đời thường.

---




Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2025

Khách Làng Chơi Trong Truyện Kiều

   Một nhân vật thoáng qua trong Truyện Kiều, nhưng để lại dấu ấn lặng lẽ đẹp đẽ về lòng tử tế: vị khách làng chơi chôn cất Đạm Tiên bên vệ đường.

Khách làng chơi  - Ảnh tưởng tượng có công nghệ trợ giúp📸

1. Một cuộc vui lỡ bước

   Ngày xưa, có ông khách làng chơi ghé lầu xanh chỉ mong mua dăm ba tiếng cười. Đời ông như cái bóng lay qua ngõ hẹp: đến rồi đi, không ai nhớ tên, chẳng cần ai lưu dấu.

   Nhưng một lần, đến không đúng lúc. Trong phòng vắng, Đạm Tiên đã hóa búp hoa tàn. Lời chào chưa kịp mở môi đã thành tiếng thở dài.

"Thuyền tình vừa ghé tới nơi 

Thì đà trâm gãy bình rơi bao giờ ".

2. Khi kẻ phong lưu biết cúi đầu

   Người ta cứ ngỡ kẻ ăn chơi thì vô tình. Ai dè ông ta đứng lặng như vừa thấy lại chính mình trong một thân phận khác. Không ồn ào, chẳng biện minh. 

"Khóc than khôn xiết sự tình 

Khéo vô duyên lại là mình với ta 

Đã không duyên trước chăng là 

Thì chi chút ít lại là duyên sau ".

   Ông lặng lẽ sắm sanh quan quách, áo xiêm. Rồi đặt cô xuống vệ cỏ. Để cỏ hoa đỡ cô nằm. Để đời biết rằng từng có một người đẹp vậy mà bạc vậy.

"Sắm sanh nếp tử xe châu 

Vùi nông một nấm mặc dầu cỏ hoa ".

   Việc tử tế đôi khi giản dị đến mức chẳng ai nhớ ai đã làm.

3. Dấu nhân tâm còn đọng

   Cuộc gặp gỡ giữa một kẻ tìm vui và một người đã chết lại gieo một hạt giống vào duyên nghiệp Truyện Kiều. Nhờ ông, Đạm Tiên có một nấm mộ để chờ người tri kỷ tìm đến khóc thay.

   Rồi khi Kiều dừng chân nơi ấy, giọt nước mắt “khéo dư” đã rơi… Hóa thành lời báo ứng cho một kiếp tài hoa: Cảnh này rồi ai biết có gọi tên mình?

4. Một nhân vật thoảng qua nhưng không biến mất

   Nguyễn Du chỉ tả ông trong vài câu thơ.

   Vậy mà ông sống.

   Sống trong ý niệm về lòng nhân và cái đẹp khuất lấp.

   Sống như một nhắc nhớ:

   Không ai chỉ có một mặt.

   Một kẻ phong trần vẫn có thể giữ được một góc mềm trong tim.

   Trong một thế giới xô bồ đầy phán xét, ông khách làng chơi ấy đã để lại một dấu lặng tử tế, nhỏ mà sáng.

Bụi đường một nấm cỏ xanh

Khách xưa khuất bóng còn dành nghĩa riêng

Hoa tàn vẫn giữ hương duyên

Người qua đoạn mệnh dễ nghiêng phận mình.


P/S: 

   Cuộc đời lắm khi chỉ là một lần dừng chân sát vệ đường, gặp một nấm đất nhỏ mà lòng nao nao. Người khách làng chơi ấy rồi cũng chìm vào những ồn ào của quán rượu và tiếng phách lầu xanh. Đạm Tiên thì ngủ yên dưới màu cỏ úa. Mỗi người đi một ngả, không ai hứa hẹn gì với ai.

   Thế mà, chỉ với một nghĩa cử lặng lẽ, họ đã kịp để lại một chút ấm cho nhau. Nhờ vậy, khi Thúy Kiều ghé đến, nhân gian còn một đốm sáng dẫn đường. Có lẽ, sống ở đời chỉ cần thế: khi ngang qua nỗi bất hạnh của người khác, biết dừng lại một nhịp. Để thương. Để nhớ. Rồi đi tiếp.

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2025

Một lần tháp tùng Thiếu tướng Hoàng Đan

  

   Bài viết sau đây do tác giả Đinh Hồng Pha gửi tới, tôi xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.  


   Cuối năm 1984, khi chiến sự ở Vị Xuyên đang ở giai đoạn ác liệt nhất, tôi có một kỷ niệm mà đến nay vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức. Đó là lần được đi cùng Thiếu tướng Hoàng Đan ra tận chốt tiền tiêu của E266/F313, thuộc Hán Giang, xã Minh Tân, ngay dưới chân đài Z – điểm cao 1250, nơi đối phương đặt đài quan sát.  

Thiếu tướng Hoàng Đan - Ảnh Internet 

Vinh dự xen lẫn hiểm nguy

   Được tháp tùng một vị tướng trận mạc lừng danh là niềm vinh dự lớn lao đối với tôi – một trợ lý công binh Quân khu. Nhưng đi cùng cụ Đan cũng đồng nghĩa với việc phải đối mặt với hiểm nguy cận kề. Chỉ một sơ suất nhỏ, nếu đối phương phát hiện, pháo binh TQ có thể dội xuống ngay lập tức.  

Khoảng cách sinh tử

   Hôm ấy, đoàn đi gồm cụ Đan, tôi, anh Khoan – trợ lý tác chiến Quân khu (sau này là Trưởng phòng Khoa học Môi trường Quân khu), anh Quách Cao Thắng – E trưởng E266/F313, cùng các đồng chí trinh sát và tác chiến trung đoàn 266 (E266).  

   Chúng tôi tiến đến tận chốt, chỉ cách địch chừng 50 mét. Không khí bên ngoài tưởng như yên bình, nhưng trong lòng ai cũng hiểu rằng chỉ một ánh mắt từ ống nhòm đối phương cũng đủ làm thay đổi tất cả. Tôi khẽ nói với anh Khoan:  

 “TQ -- nó mà biết thì hôm nay chưa biết thế nào…”  

Hình ảnh người chỉ huy

   Khi còn cách chốt khoảng 100 mét, chúng tôi dừng lại bên một hòn đá lớn để nghỉ. Cụ Đan lặng lẽ móc trong túi ra đôi quân hàm thiếu tướng đã ngả màu, rồi quay sang bảo tôi:  

 “Pha đeo cho tớ, đến với anh em phải đàng hoàng.”  

   Tôi run run gắn quân hàm lên ve áo cụ. Đó là một chi tiết nhỏ nhưng đầy ý nghĩa: người chỉ huy muốn xuất hiện trước chiến sĩ với đúng phẩm chất và vị thế của mình, để khích lệ tinh thần anh em nơi tuyến đầu.  

Bối cảnh chiến tranh biên giới

   Thời điểm ấy, chiến tranh biên giới phía Bắc vẫn căng thẳng. Các chốt tiền tiêu thường xuyên đối mặt với nguy cơ pháo kích, tập kích. Việc một vị tướng trực tiếp xuống tận nơi kiểm tra không chỉ là hành động chỉ đạo quân sự, mà còn là lời động viên tinh thần vô giá cho chiến sĩ.  

   Trời hôm đó nắng, quang đãng, tầm nhìn xa rõ rệt. Tôi cứ nghĩ, nếu đối phương soi qua ống nhòm, chắc hẳn sẽ thấy rõ đôi quân hàm bạc màu trên ve áo cụ Đan. Nhưng nhờ đi dưới hào, cây cỏ ven đường che khuất, chúng tôi vẫn an toàn.  

Khoảnh khắc không quên

   Đó là một khoảnh khắc vừa căng thẳng, vừa tự hào – minh chứng cho tinh thần quả cảm và sự chính danh của người chỉ huy, cũng như sự gắn bó giữa tướng lĩnh và chiến sĩ nơi tuyến đầu. Hình ảnh cụ Hoàng Đan với quân hàm bạc màu, nhưng vẫn sáng ngời khí phách, đã trở thành ký ức không thể phai mờ trong tôi.  

 Suy ngẫm về sự hy sinh

   Sau này, mỗi khi nhớ lại, tôi không chỉ nhớ đến hình ảnh quân hàm bạc màu trên ve áo cụ Đan, mà còn nhớ đến ánh mắt kiên định của anh em chiến sĩ nơi tiền tiêu. Họ đã sống, chiến đấu và hy sinh để giữ từng tấc đất biên cương.  

P/s:

   Những người đi kiểm tra hôm đó đến nay: cụ Đan, anh Khoan đã mất. Anh Khoan người Phù ninh, Phú thọ, đi học LX về. Anh Thắng người Mường - Thanh Hoá hơn tôi 3-4 tuổi vẫn khoẻ. Trước đây ông ấy uống R khoẻ nên gọi là Quách Cao Can, nhiều người biết. Còn anh em đi cùng khác gặp 1 lần không còn nhớ.

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2025

MỤC LỤC

"Đọc chậm để thấy cái “hồn” của đồ vật, để nghe tiếng thời gian lật mình"

CỔ và CŨ  - Du Hà Ngọc 


I. Những Năm Tháng Bao Cấp

II. Những Người Tôi Nhớ

    
  1. Rượu và ...gái
  2. Thịnh Củng và con nai rừng
  3. Tẽn tò
  4. Kỷ niệm tuổi học trò
  5. Hùng Sớ và chiếc xe cub 79
  6. Ông Viện trưởng
  7. "Chiêu" của chàng trai người Việt
  8. Chiếc kính râm và Người đàn ông Cộng hòa Dân chủ Đức
  9. Ông Son và Bà Sụng
  10. Thiên đường anh mơ
  11. Tự ti và Tự tin
  12. Bà giáo - Bóng hình năm tháng
  13. Uống nước nhớ nguồn
  14. Dì Tính
  15. Cái Bé – Cuộc gặp muộn qua màn hình nhỏ

III. Đồ Cũ Còn Hơi Ấm - Góc Nhìn 

  1. Shipper – Những bánh xe âm thầm của nền kinh tế số
  2. Kính râm tròng tròn
  3. Chiếc kính thời thượng
  4. Chiếc kính râm không dành cho số đông
  5. Tuổi già và thời trang
  6. Chiếc kính râm nồi đồng cối đá
  7. Năm 2025 – nhìn lại, như đứng bên bờ một dòng sông cũ
  8. Chiếc radio - Sóng quê nơi xứ lạnh
  9. 162 Trần Quang Khải – Một địa chỉ trong ký ức ngành GTVT của tôi
  10. Mr. Dag Vegger – Người Tư vấn
  11. AI & Camera Giao Thông
  12. Khi Kiến thách thức Voi: Quy luật bất biến của lịch sử
  13. Phố đường tàu Hà Nội – Có thể trở thành sản phẩm du lịch mạo hiểm chính thống?
  14. Khi chiến trường nằm cả trong… kho bạc quốc gia
  15. Giá dầu tăng – Mỹ có thực sự “kiếm được nhiều tiền”?
  16. Khơi mào chiến tranh thì dễ, kết thúc mới khó
  17. Từ “Xây để tăng trưởng” đến “Tiêu dùng để phát triển” – Bước ngoặt trong chính sách kinh tế Trung Quốc
  18. Khi Eo biển Hormuz “khép cửa”: Một thế giới khát năng lượng
  19. Gió xa từ một cuộc từ chức
  20. HORMUZ – Một Sợi Chỉ Mỏng Treo Giữa Thế Giới
  21. Pakistan – Người chèo đò giữa hai dòng nước xiết Mỹ–Iran
  22. Niềm tin – Chìa khóa cho tiêu dùng hộ gia đình Trung Quốc
  23. Chi tiết bài phát biểu của Tổng thống Mỹ Donald Trump tối 01/04/2026 (sáng 02/04/2026 giờ Việt Nam) về cuộc chiến với Iran
  24. Những cái gật đầu – giữa cơn bão lớn
  25. Cây gậy và củ cà rốt ở Eo biển Hormuz – Ván cờ dầu mỏ nóng bỏng

IV. Thơ & Thiền & Nhân vật 
  1. Đi giữa Văn Miếu chiều thu
  2. Haiku: Người chưa gọi tên
  3. Mã Đáo Thành Công
  4. Chân dung nhân vật trong Truyện Kiều
  5. Vương Thúy Kiều trong Truyện Kiều
  6. Vương Thúy Vân trong Truyện Kiều
  7. Bài diễn thuyết bằng quốc văn của ông Phạm Quỳnh
  8. Vương Quan trong Truyện Kiều
  9. Đạm Tiên trong Truyện Kiều
  10. Truyện Kiều trong ngoại giao Việt – Mỹ: Chút hương xưa giữa thời cuộc mới
  11. Khách Làng Chơi Trong Truyện Kiều
  12. Kim Trọng Trong Truyện Kiều
  13. Vương Ông (Bố Thúy Kiều, Thúy Vân, Vương Quan) trong Truyện Kiều 
  14. Vương Bà Trong Truyện Kiều
  15. Thằng Bán Tơ Trong Truyện Kiều
  16. Tú Bà Trong Truyện Kiều
  17. Mã Giám Sinh trong Truyện Kiều
  18. Sở Khanh Trong Truyện Kiều
  19. Thúc Sinh trong Truyện Kiều – Người Đàn Ông Đa Tình Nhưng Yếu Đuối Đáng Thương
  20. Cây Lộc Vừng Mùa Lá Rụng
  21. Ông Quan Xử Kiện – Khi Phép Nước Cũng Biết Rưng Rưng

V. Nốt Nhạc Cười Nhẹ - Khác 

VI. Xa Quê 

VII. Những Công Trình Cổ & Câu Chuyện Cũ 

VIII. Ký ức Vị Xuyên - Hà Giang - Biên giới


IX. Truyện Kiều - NGUYỄN DU
                                      
  1. (Truyện Kiều - Phần 1). Chị em Kiều du xuân gặp mộ Đạm Tiên
  2. (Truyện Kiều - Phần 2).Kim Trọng - Kiều gặp nhau khi du xuân
  3. (Truyện Kiều - Phần 3).Biến cố gia đình - Kiều bán mình chuộc cha.
  4. (Truyện Kiều- Phần 4). Kiều rơi vào tay Tú Bà và Mã Giám Sinh
  5. (Truyện Kiều - Phần 5). Kiều bị Sở Khanh Lừa
  6. (Truyện Kiều - Phần 6). Kiều gặp Thúc Sinh
  7. (Truyện Kiều - Phần 7). Kiều và Hoạn Thư

"Viết để nhớ, nhớ để thương, thương để sống chậm hơn". Cổ và Cũ - Du Hà Ngọc



Cây gậy và củ cà rốt ở Eo biển Hormuz – Ván cờ dầu mỏ nóng bỏng

“The carrot and stick approach is still being used in parallel in the conflict with Iran.” Eo biển Hormuz – tuyến hàng hải vận chuyển gần 20...